THẤT-CHƠN NHƠN-QUẢ

HỒI THỨ HAI MƯƠI BẢY

Dụ đạo chúng thuần thuần cáo giáo,

Luận tu hành tuần tuần thuyết lai.

Nghĩa là:

Khuyên đạo chúng lần lần dạy dỗ,

Luận việc tu hành bực bực nói ra.

Có bài kệ rằng:

Bông nở bông tàn hết mấy năm,

Người đời nào thấy nguyệt thường rằm,

Mở ra danh lợi hai đường khóa,

Trồng lửa trồng sen mới khá ngâm.

Lại nói Khưu chơn-nhơn đi ra ngoài chùa lấy phất trần, bứt một nắm chỉ thổi một hơi chơn khí, quăng lên trên không trung một hồi lâu, tới không biết bao nhiêu đạo chúng theo chơn-nhơn vô chùa, đem thầy chùa đổi hết, còn Bạch-Vân thiền-sư đi lại ở chỗ Tập-Hiền-Quán, mấy thầy chia ra đi các chùa ở đậu. Tại sao mà Khưu chơn-nhơn muốn lấy chùa Bạch-Vân-Tự? Vì chỗ đất Bắc-Kinh chủ khí đương thạnh, biết là đất ấy làm đô thời ở lâu, nên muốn mượn chỗ thạnh địa đặng lập đạo trường khai hóa hiền nhơn. Bởi Bạch-Vân thiền-sư cái phần ở chỗ Nam-Kinh, xứ Tam-Giang, hiển phát phổ độ chỗ đó, nên khiến Khưu chơn-nhơn lấy Bạch-Vân-Tự đặng thiền-sư đi qua phía Nam mở đạo. Ấy là Trời định đâu có phần số đó, hoặc lợi cho người nầy, chẳng lợi cho người khác. Bởi người thượng trí tu chơn hay mượn chỗ tương sanh mà ở, chỗ khắc phải lánh, nên gọi là địa lợi vậy.
Lại nói Khưu chơn-nhơn ở tại Bạch-Vân-Tự, chiêu tập người tu hơn một tháng, đặng mấy mươi người đạo hữu, coi làm các việc trong chùa, sắp đặt có phần đông đảo tấn phát. Khưu chơn-nhơn thấy trong đạo hiền ngu chẳng đồng,
ắt phải mở dạy một phen.
Khưu chơn-nhơn bèn mời đạo hữu mà nói rằng: Nhơn việc xuất gia nầy là lánh chỗ trần tục, phải trước có ý coi cho thấu việc trần chơn giả, hư thiệt, có lòng học đạo, thiệt chí, thiệt tâm mới gọi là chơn tâm xuất gia. Bằng trong lòng ý còn ham vọng thành Tiên, hoặc vì có việc hờn giận, hoặc tham an-nhàn mà mượn đạo làm cớ đặng yên ổn cái thân, như vậy xuất gia học đạo lòng dõng mãnh chưa có, chí lâu dài khó đặng, lấy đạo làm như việc thường, có không chẳng cần, thì sau cũng mất chỗ huyền diệu.
Còn có người khi tuổi nhỏ không lo tánh mạng, đến già cô độc một mình mới tính xuất gia, đó là mượn cửa đạo mà nương mình, nào có phải coi thấu việc trần là giả! Nói cho hết mà nghe, đã tới đặng cũng tốt, chẳng cần coi thấu hay không, như vậy là tu qua buổi mà thôi.
Hễ người đến tại đất Tam-Bảo (vào cửa Phật) thì gọi là người có duyên, vào chùa ta cũng chẳng nghèo, bỏ cửa ta cũng không giàu.
Hễ vào trong cửa ta thì phải y theo lời ta: người thượng-trí thì học tham-thiền công-phu; người trung-trí thì tụng kinh lễ sám; người hạ-trí thì lập công làm việc, cũng đặng tròn phận xuất gia. Như người chẳng đặng, mình phải gắng cho đặng; người chẳng nhẫn, mình phải gắng cho nhẫn. Trai phải giữ chữ Trung; gái phải gìn chữ Tiết, đức hạnh kiêm toàn. Nhẫn là nhẫn cái sân-si tật-đố, tuyệt dứt cái tình-dục, cùng nhẫn chịu đói lạnh khảo trừng chịu nhục, chịu thiệt, ăn mặc kém thua, lời nói phải thấp hạ khiêm nhường. Như vậy mới đặng hơn người, mà phải trong lòng không không, đừng dung một mảy niệm quấy, đừng khởi một điểm lòng tư, đừng coi người khinh hèn, phải ép mình tôn người. Như mình đặng không thì ma nào ứng đặng, phải tại chỗ hư-vô mà cầu đạo, thì công-phu chắc đặng, bằng đem việc ngoài mà công-phu thì phải mất chơn. Phàm việc chi phải lượng sức mà làm, đừng thái quá bất cập, biết đặng lớn thì thành lớn, biết nhỏ thì thành nhỏ. Noi theo đường mực mà đi, giữ phép qui-củ mà tu, tuy chẳng đặng thành Tiên Phật cũng chẳng mất người hảo-nhơn, lại cũng chẳng uổng việc xuất gia học đạo.
Như biết nói để tóc là người đạo, cạo đầu là người tăng, mà ngũ-uẩn chẳng không, tứ tướng chẳng bỏ, ngoài thì sửa soạn trang nghiêm, trong bụng quá hơn người tục, lòng công danh không dứt, tâm phải quấy chẳng trừ, se-sua thường niệm sợ ăn mặc thua người, kiêu-hãnh tưởng hoài, muốn việc làm cho có thường như nguyện, như vậy nói tu hành, thiệt chưa có tu hành; xưng là học đạo, thiệt trọn không có đạo. Tưởng lại người ở tục lấy khổ làm vui, còn ở cửa Phật làm gì? Mượn đạo mà dối đạo, giả tu mà nương thân làm ăn, tạo ra không biết bao nhiêu tội lỗi. Kiếp nầy đã không siêu thăng, kiếp sau còn phải đọa vào biển khổ. ở trong cửa Phật mà không làm bản dạng cho Phật, thì gọi là thế mạng khổ hành chỗ nào? Nên người tu phải xét mình: như có lỗi ai chỉ sửa cho mình, thì phải tỉnh mà tự hối, chẳng khá tự cao, tự đại mà lầm uổng một đời. Vậy xin các người rán nhớ.
Khưu chơn-nhơn đương giảng nói, ngoài cửa đi vô mười mấy người cao lớn. Mấy người nầy khi trước ở núi Tần-Lãnh ăn cướp mà cứu chơn-nhơn sống lại, rồi nhờ chơn-nhơn giảng việc tội phước nhơn quả, nên thức tỉnh cải tà qui chánh, ra chợ mua bán làm ăn mười mấy năm. Nay nghe đồn ở Bạch-Vân-Tự có Khưu chơn-nhơn thiệt người đạo-đức lớn. Năm rồi cầu mưa phổ cứu nhơn dân, lại toán Hoàng-hậu sanh Thái-tử cùng Bạch-Vân đấu kình, ăn đặng chùa Bạch-Vân. Nay ông mở việc dạy tu hành học đạo, hay giảng kinh thuyết pháp nên mấy người nghe nói thảy đều vui mừng. Triệu-Bích nói: Hay là ông ở núi Tần-Lãnh anh em cùng cứu sống đó chăng? Lại thấy bảng đề: "Khưu mỗ phụng hành" thì chắc nay ông tu thành đạo rồi, vậy bạn ta đồng đi đến Bạch-Vân-Tự coi có phải không?
Trương-Kiển nói: Bạn ta thường nguyện đi tầm người có đạo đức, nay đặng như nguyện không chừng?
Châu-Cửu rằng: Mình đến coi như người có đạo-đức, bái ông làm thầy xuất gia tu hành cũng khá đặng.
Triệu-Bích tiếp: Em nói phải! Rồi đều đi đến Bạch-Vân-Tự, nhằm lúc Khưu chơn-nhơn cùng mấy người đương ngồi tại điện giảng nói việc xuất gia học đạo. Chơn-nhơn thấy mấy người bước vô, đứng dậy hỏi rằng: Mấy anh em bấy lâu mạnh giỏi?
Mấy người đều quên ông, đáp rằng: Nhờ ơn Trời Phật bảo hộ đặng bình an, vậy không biết thầy ở đâu? Hình như có gặp thầy một lần mà không nhớ chắc, xin thầy nhắc lại.
Khưu chơn-nhơn rằng: Chẳng nhớ trên Tần-Lãnh người đói trong miễu đó sao?
Triệu-Bích hỏi: Phải thầy khi đó có chỉ cho bọn tôi tu hành đó chăng?
Khưu chơn-nhơn đáp: Phải, tôi chớ ai!
Mấy người nghe nói đều quì bái thưa rằng: Từ ấy đến nay cách biệt mười mấy năm, bọn tôi đều phải suy già, còn thầy hình dung trở nhỏ, thiệt người có đạo. Ngày trước tôi có nói chừng nào thầy đắc đạo anh em tôi sẽ tới thọ giáo, nay xin thầy cho anh em tôi ở đây học đạo.
Chơn-nhơn rằng: Xưa nhờ ơn cứu mạng, nay nào dám quên tình. Còn anh em nói tôi đắc đạo, thiệt tôi không dám có đặng. Chẳng qua mượn chỗ nầy mà lập trường mở dạy, biện minh việc đạo đó thôi. Than ôi! Khổ hải không bờ trở đầu tới bực. Tôi ngày đó chẳng qua là răn cái ý của tôi, không dè mấy anh em nghe lời ấy mà sửa lòng đổi chí có công cải lỗi theo lành, thiệt gọi là người hảo-nhơn đại-chí. Mười mấy năm giữ lòng bền chặt,
đến nay khám phá đặng hồng trần, muốn xuất gia tu thân, thiệt tôi lấy làm mừng lắm!
Người có lòng tu hành là tiền sanh tích nhiều việc phải mới đặng phát cái niệm đó. Ðã phát tâm học đạo thì phải giữ luân phép: ngôn-ngữ, từ-bi, hạ-khí, nhẫn-nhịn, hòa-khiêm, cẩn-ngôn cẩn-hạnh, lập bản dạng cho hậu hiền, chẳng đặng lộng tánh buông tình, khởi lòng ganh ghét. Ðừng thấy người chẳng bằng mình mà đem ý khinh-khi, trở lòng háo-thắng, sỉ-nhục, nơi người đừng khởi niệm cống-cao kiêu-thái mà hại trong tánh mạng. Còn mình chẳng bằng người là tu tích chưa đủ, công đức chưa đầy; người chẳng bằng mình là thời-vận chưa thông, tiền căn siễn-bạc. Bởi đạo không có lớn nhỏ, người tu đừng gọi thấp cao, chẳng luận giàu sang nghèo khó, cũng không phân lớn nhỏ trẻ già, hễ người có đạo là lớn, có đức thì tôn. Có câu: "Ham học như vàng như ngọc, chẳng ham học như cỏ rác". Chẳng quí vàng bạc của báu, quí trọng đạo-đức nghĩa-nhơn. Thiên-tử xuất gia chưa đủ quí, ăn mày xuất gia chẳng phải hèn. Ta khi còn nhỏ, cha mẹ mất sớm, nhờ anh chị dẫn dắt nên người, coi biết việc hồng trần các món chẳng thiệt, nào là cha con anh em vợ chồng, tiền bạc đều giả, duy có đạo-đức làm trọng, nên nguyện một lòng phỏng đạo tu chơn. Sau gặp thầy là Vương-Trùng-Dương tiên-sanh chỉ cho chỗ chí đạo, lại nhờ sư huynh là Mã-Ðơn-Dương hết lòng chỉ biểu, từ khi tại chỗ Xuyên-Cốc ly biệt đến sau thêm công gắng sức, bị đói lớn 72 lần gần chết, còn đói nhỏ vô số, kể không xiết. Vậy mà lòng ta như sắt đá, thà chết chẳng bỏ lòng xưa, chịu ma-nạn chừng nào chí lại thêm bền chắc, sợ lo có tội còn dư. Rồi sau ở tại Bàn-Khê lập công khó mấy năm, trong việc khốn khổ kể chẳng hết lời. Ta nhớ câu "Khổ tận cam lai", hết cực tới sướng, hết đắng tới ngọt. Ðến ngày rõ biết tỉnh ngộ, nhờ Trời chiếu giúp 2 lần cầu võ đặng giáng cam lâm (mưa lớn) tới thời tiếng động đến Ðế-bang,
tuy đạo quả chưa thành mà đến bực nầy cũng không phải dễ.
Nay mấy người muốn xuất gia phải làm như vậy, đừng vì giàu sang mà động tâm, đừng thấy nghèo khổ mà dời chí, coi thân mình như chết rồi. Nay trong chỗ chết mà đặng sống phải tưởng là một việc lớn, đặng cầu cái phép chẳng chết mới gọi là người chí nhơn học đạo.
Khưu chơn-nhơn nói rồi, mấy người nghe việc tu hành khổ cực của thầy, thảy đều sa nước mắt, thương niệm công khó của chơn-nhơn mấy năm tu hành cực nhọc. Chơn-nhơn thấy mấy người biết hồi tâm lại nói: Nếu chẳng đến cái khổ cho tột, chỗ tánh phàm không dứt thì trí-huệ khó thông! Ðến lúc liễu đạo còn phải đầu thai luân-hồi tái-thế thì uổng cho một kiếp.
Nay nguyện chỉ cho mấy trò chỗ khổ đó mà cầu ra, chịu đặng một phen khổ, bớt đặng một lần ma chướng, chịu mười mấy phần thì oan khiên đặng tiêu, nhẫn đặng một việc,
cũng như mình sang cái gánh nặng thì đặng nhẹ hết mấy phần. Chơn-nhơn giảng rồi,
chọn ngày cùng mấy người đổi áo mão, sắm lễ sám-hối, cho mỗi người đạo danh.
Lại nói qua Hoàng-hậu tưởng sanh Công-chúa bồng ra trước điện trở tay liền biến thành Thái-Tử, làm Bạch-Vân thiền-sư trao hết ngôi chùa cho Khưu-Trường-Xuân,
việc cũng tại mình sanh ra sự họa, sợ Bạch-Vân thiền-sư phiền muộn,
bèn sai người đi thỉnh vào cung khuyên giải rằng: Vì con tôi làm cho thầy chịu lụy.
Thiền-sư đáp: Số lý tôi đoán chắc thiệt Phụng thai, chẳng biết Trường-Xuân dụng cái tà thuật chi mà đổi. Tôi sợ chẳng phải cái phước trong nước nhà.
Hoàng-hậu nói: Vì Hoàng-thượng không hậu, nên tôi cũng không dám nói nhiều,
nay Hoàng-thượng đặng hậu Thái-tử, kính trọng Trường-Xuân như Thần Tiên,
mỗi ngày tại trong ngự quân giảng đạo đàm huyền, ít vào trong cung điện.
Bạch-Vân thiền-sư tánh hay ố nhơn thắng kỷ, có lòng sâu độc mới nói với Hoàng-hậu rằng: Tích xưa đời Ðường-Minh-Hoàng ở ngôi, nội triều văn võ bá quan đều xưng Trương-Quả-Lão là Thần Tiên. Ðường-Minh-Hoàng muốn thử, lấy thuốc độc bỏ trong rượu, biểu Trương-Quả-Lão uống. Ông biết trước, liền uống ba chén rồi nói rằng: Tửu-hào không tốt. Nói vừa dứt lời, hôn mê nửa khắc, răng trong miệng đen hết. Chừng tỉnh dậy, ông lấy thiết-như-ý nhổ hết răng đen, ông ngậm miệng một hồi mọc răng trắng lại hết. Chừng đó Ðường-Minh-Hoàng mới tin ông thiệt là Thần Tiên giáng thế. Nay nương-nương muốn chắc, học theo Ðường-Minh-Hoàng, để rượu độc trước án, mời Khưu-Trường-Xuân cho uống. Như y uống rượu đó không chết mới thật là Chơn-Tiên.

Chước là một kế nhỏ,
Thần Tiên cũng khó từ.

HỒI THỨ HAI MƯƠI TÁM

Tứ trấm tửu, Hoàng-hậu thí đạo,

Ðái kim-quan, Chơn-nhơn ngâm thi.

Nghĩa là:

Cho uống rượu trấm Hoàng-hậu thử đạo,

Ðội mão vàng Chơn-nhơn ngâm thi.

(Rượu trấm là lông chim Trấm ngâm rượu,

uống thì chết tức thời, không phương giải đặng)

Có bài kệ rằng:

Ðơn thành cửu chuyển mới thuần-dương,

Nhập Thánh siêu phàm thọ mạng trường,

Chẳng có một phen điều uất-trắc,

Sao đặng muôn đời để tiếng vương.

Lại nói Hoàng-hậu nghe lời Bạch-Vân thiền-sư biểu nội thị tới Bạch-Vân-Tự mời Khưu chơn-nhơn, Hoàng-hậu đặt rượu độc mà đợi. Quan nội-thị vâng lịnh nương-nương đến mời chơn-nhơn vào cung. Chơn-nhơn biết trước, ra đi phân dặn mấy người múc 24 mái nước lạnh để một hàng, đặng ông về có việc dùng, chẳng khá sai.
Dặn dò xong rồi liền cùng nội-quan vào cung hầu kiến phụng giá. Hoàng-hậu rằng: Trước kia chơn-nhơn toán định tôi sanh Thái-tử, quả thiệt không sai.
Nay tôi không có chi đền ơn, xin kỉnh chơn-nhơn tam-bôi ngự-tửu, niệm lấy chút tình.
Nói rồi truyền nội-thị dâng rượu cho chơn-nhơn.
Khưu chơn-nhơn chẳng chối từ, liền uống 3 chén rồi tạ ơn ra về. Về tới Bạch-Vân thấy 24 mái nước lạnh để sẵn, chơn-nhơn nhảy vô ngâm một hồi, hễ nước nóng sang qua mái khác. Ngâm hết 23 mái, còn một mái chưa đầy, chưa đủ sức, độc khí không sạch, hơi độc xông lên trên đầu, rụng hết nửa mé tóc, nên ông Khưu sói hết nửa cái đầu.
Bạch-Vân thiền-sư nghe tin Khưu chơn-nhơn chưa chết, bèn vào cung tâu cho Hoàng-hậu hay. Hoàng-hậu rằng: Uống rượu độc mà không chết chắc là Thần Tiên.
Bạch-Vân thiền-sư nói: Hoặc rượu chưa lấy làm độc nên chưa chết cũng có! Tôi nghe Thần Tiên huy khắc ngũ-kim bát-thạch, như đồ vàng bạc đồng sắt tới trong tay thời biến thành bùn muốn tròn vuông tự ý. Tích rằng đạo có khăn không có mão. Nương-nương giả đò không biết, sắm một cái mão vàng thưởng cho y, biểu đội trên đầu. Như y đội dính thiệt là Thần Tiên, bằng không thì cười chơi, ắt y mắc cở trở về trên núi không chừng.
Hoàng-hậu nghe nói vui lòng, liền biểu nội-thị mời Trường-Xuân vào cung. Trường-Xuân vào, Hoàng-hậu thấy đầu ông sói, hỏi rằng: Chơn-nhơn sao không có tóc?
Thế cũng có bịnh chi?

Chơn-nhơn đọc 4 câu kệ rằng:

Trước vâng đơn triệu đến diêu-giai,

Vương-mẫu đãi thần rượu thiệt say,

Uống hết tam-bôi trường thọ tửu,

Mới đem trên đảnh cửa trời khai.

Khưu chơn-nhơn ngâm kệ rồi, Hoàng-hậu mắc cở, chẳng muốn thử nữa, ngặt vì đã chịu với thiền-sư rồi nên Hoàng-hậu cười nói rằng: Chơn-nhơn quả thiệt Thần Tiên, phép lực chẳng ít, ai cũng kỉnh phục. Nay tôi làm cái mão vàng cho chơn-nhơn đội lấy thảo. Nói rồi biểu nội-thị lấy mâm ngọc-điệp bưng ra 1 cái mão vàng thỉnh chơn-nhơn đội lên.
Khưu-Trường-Xuân biết trước việc đó là của Bạch-Vân âm mưu, nên có đem theo cây kim-cang để trong tay áo, tay tiếp lấy mão, ngồi vận tam-muội chơn-hỏa, thổi trên mão vàng ấy mềm như đất, lấy kim xỏ ngang, đội trên đầu, chẳng nghiêng chẳng động.
Ấy Hoàng-hậu cũng nghe lời Bạch-Vân sâu độc, làm đặng cười chơn-nhơn chơi,
ai dè làm để cái qui-củ trong cửa đạo
(nên nay người trong đạo mới đội cái mão vàng, là sự tích do đây mà ra).
Lại nói Khưu chơn-nhơn đội mão vàng trên đầu rồi tạ ơn Hoàng-hậu,

có ngâm bài kệ:

Liền vâng đơn triệu thưởng ơn thâm,

Thần dám đem khi với hậu ngâm,

Quân-tử có lòng không bịnh cũ,

Nam-nhi trên đảnh đội Huỳnh-kim.

Chơn-nhơn ngâm thi rồi Hoàng-hậu trong lòng không yên đứng dậy nói rằng: Tôi nay biết lỗi rồi, chơn-nhơn xin đừng phiền.
Khưu chơn-nhơn rằng: Hoàng-hậu đâu có lỗi; lỗi tại nơi tôi, vì tôi ở lâu trong trần, chẳng đặng ăn-năn sớm nên mới bị ma chướng như vậy. Nói vừa dứt lời, Bạch-Vân thiền-sư ở sau bình phong bước ra nắm tay Khưu chơn-nhơn rằng: Chơn-nhơn chẳng phải tự gây ma chướng, thật tại tôi gây cho ông.
Trường-Xuân nói: Thiền-Sư là người giai-không nào có tạo ma-chướng cho tôi; coi lại thiệt tại tôi mà ra.

Liền ngâm kệ rằng:

Tham mê việc thế luyến trần hiêu,

Vì muốn ăn-năn họa chẳng tiêu,

Phiền-não tại mình làm ra đó,

Ai mà kiếm đặng bụng ta diêu?

Khưu chơn-nhơn ngâm 4 câu kệ chịu lỗi về mình. Nguyên vì Bạch-Vân thiền-sư chẳng có nhiều chuyện, tại Trường-Xuân mượn rồng đổi phụng, ăn ngôi chùa của ông, ông mới sanh việc ma-chướng, tức mình biểu Hoàng-hậu đặt rượu độc, cho mão vàng, đặng rửa hờn. Như chơn-nhơn không lấy cái chùa của y thì nào có việc trái phải, cho nên chơn-nhơn chịu lỗi về mình, thiệt là thiên-lương chẳng muội.
Bạch-Vân thiền-sư nghe đặng chơn-nhơn chịu lỗi, thiền-sư cũng hối mình dùng ý nói sai,

ngâm kệ rằng:

Ðọc rồi kinh Phật việc phải không,

Sao lại đem lòng tính lông-bông?

Nói phụng nói rồng đều không ích,

Uổng lao tâm chí lại không công!

Hoàng-hậu thấy thiền-sư với chơn-nhơn cả hai đều chịu lỗi về mình, trong lòng cảm phục, đương muốn khuyên than ít lời kế thấy cung-nhơn báo rằng: Có Thánh-giá đến! Hoàng-hậu lật đật nghinh tiếp Thánh-giá vào cung. Khưu chơn-nhơn cùng Bạch-Vân thiền-sư đều chầu. Ngươn-Chúa mừng rằng: Trẫm thấy hai khanh không hòa, có lòng chẳng vui. Nay đến Tây cung giải buồn nghe nói hai khanh đặng hòa-hảo, trẫm rất hoan hỉ. Hoàng-hậu liền đem việc hai người đều chịu lỗi thuật cùng Ngươn-Chúa nghe. Ngươn-Chúa rằng: Trẫm rất vui lòng, thiệt là Tam-Giáo không có hai lẽ,
tăng đạo cùng chung một nhà. Trẫm nay cũng ngâm ít câu đặng mừng hai khanh.

Kệ rằng:

Một tăng, một đạo tại kinh-hoa,

Tăng đạo nguyên lai cũng một nhà,

Từ đấy chẳng lòng phân bỉ thử,

Ðều thành chánh quả Phật Di-Ðà.

Khưu chơn-nhơn cùng Bạch-Vân thiền-sư nghe đặng lời vàng đều tạ ơn. Ngươn-Thuận-Ðế nói với Bạch-Vân thiền-sư rằng: Trẫm có phát tiền kho cất một cái chùa mới cho Quốc-sư, đợi làm xong rồi thỉnh Phật tượng vào, đặt hiệu khác. Còn chùa Bạch-Vân-Tự cải làm Bạch-Vân-Quang, lên cốt thần tượng, sắp đặt tăng và đạo cho có tông chi, làm ngàn năm hương hỏa, chiêm ngưỡng muôn đời, đặng không phụ hai khanh có công bảo-hộ trẫm đó...Thời gian thắm-thoát trôi qua...
Bữa nọ, Ngươn-Chúa truyền dọn bày tiệc chay khoản đãi Khưu chơn-nhơn và Bạch-Vân thiền-sư đặng vua tôi đều vui. Ðương trong tiệc hai ông nói đạo huyền Phật pháp. Phật lấy chỗ không không mà làm căn giáo; còn Ðạo lấy chỗ hư-vô làm tông-nguyên, cùng nói việc quả-báo luân-hồi siêu-đọa, vợ chồng chơn giả các việc hồi lâu. Ngươn-Thuận-Ðế nghe hai ông luận biện đạo-đức tỏ sắc buồn, than rằng: Trẫm nghĩ cho trẫm thiệt là bạc phước!
Chơn-nhơn nghe nói chưa rõ nguồn cơn trong nước nhà dường nào,
liền tâu rằng: Chẳng hay bệ-hạ có điều chi?
Ngươn-Chúa nói: Ta chẳng dấu chi hai khanh, ta buồn là buồn còn gánh giang-san xã-tắc, phải chi ta đặng an rồi thì cũng muốn thoát diệt cõi trần.
Chơn-nhơn tâu: Muôn tâu bệ-hạ, chẳng hay bệ-hạ có điều tư ý chi khác?
Ngươn-Chúa rằng: Vì ta thấy hai khanh tuy là đạm bạc qua ngày mà đặng an-nhàn tự-toại, khỏi lo đường ràng buộc, cao thấp tự lòng. Còn như trẫm đây, tuy là đặng hưởng vạn-quán gia tài, bảo hộ lê dân chớ sau không khỏi tái sanh đường đồ khổ!
Chơn-nhơn nghe Ngươn-Chúa có lòng hồi tâm, lại nhớ lúc mình cầu mưa xong rồi Vua có nói để sau có hậu rồi cũng theo học đạo. Ðến nay đạo đã gần thành. Rồi chơn-nhơn ngồi mật niệm cầu nguyện không-trung bảo hộ hồi lâu, kiếm lời phân độ giải minh, thưa rằng: Muôn tâu bệ-hạ miễn tội cho thần tỏ đôi lời.
Ngươn-Chúa rằng: Không sao, trẫm hoan tâm miễn lỗi, chơn nhơn chớ ngại.
Trường-Xuân rằng: Muôn tâu bệ-hạ, nhơn bệ-hạ cũng có tiền căn tu đức đã nhiều, nhưng chưa đặng chánh-quả! Ðến nay bệ-hạ xuống đây hưởng ngôi quyền chưởng chấp muôn dân, ấy là tiền căn giáng thế trị đời. Vậy hạ-thần ai cầu long tâm tỉnh ngộ, tảo giác nẻo lành, dầu buổi mai mà bệ-hạ nghe đặng pháp huyền thì buổi tối cũng toại chí nơi Tiên cảnh.
 Muôn cầu bệ-hạ an tâm.
Ngươn-Chúa nghe chơn-nhơn phân biện mấy lời đạo-đức, trong lòng dường như giải-thoát lưới trần. Coi như không vợ không con, xã-tắc gia-tài cũng đều không, rồi lộ sắc hân hoan nói rằng: Xét như lời khanh phân thì chắc là ta với khanh tiền nhựt có kết sẵn duyên lành. Nói rồi Vua vào cung nói với Hoàng hậu rằng: Trẫm nay có việc riêng muốn tỏ cho Hoàng-hậu hay, chẳng ý Hoàng-hậu thế nào? Hoàng-hậu hỏi: Bệ-hạ có điều chi! Xin bệ-hạ bày tỏ!
Ngươn-Chúa rằng: Không dấu chi Hậu, có một đêm nọ trẫm trong giấc nam-kha thấy ông nội về nói rằng: Cháu tiền căn có tu hành mà công-quả chưa đủ nên cháu xuống đây sanh nhằm dòng Thiên-Tử, an trị nước nhà đó là nhơn-đạo tu rồi. Ðến nay Ngọc-Ðế sai Khưu-Trường-Xuân xuống mà thức tỉnh cho cháu, thế nào cũng phải đầu cơ với Khưu-Trường-Xuân mà trở lại. Rồi trẫm giựt mình, thì ông nội đi mất. Vì vậy trẫm muốn y lời ông, tính lo tìm thầy học đạo, giang-san xã-tắc giao lại cho Hậu, chẳng biết ý Hậu thế nào?
Hoàng-hậu thưa rằng: Lời xưa có nói: Chồng chúa vợ tôi. Tưởng là việc chi thì tôi cản đặng, còn như việc nầy là có mạng Bề-Trên, vậy tự lòng Bệ-hạ.
Ngươn-Chúa rằng: Hậu an lòng cùng trẫm thì trẫm rất cám ơn, mà không biết trong lòng Hậu có mừng, hay là vừa ý bề ngoài mà không vui trong dạ?
Hoàng-hậu rằng: Xin Bệ-hạ vui lòng, vì tôi từ bấy lâu đến nay tuy không làm việc lành lớn chớ việc nhỏ cũng thường ham. Ðến nay Bệ-hạ thức tỉnh hồi tâm,
giải thoát tam đồ khổ thì tôi cũng nguyện phu-thê đồng thượng lộ.
Ngươn-Chúa nghe mấy lời Hoàng-hậu chắc là tu được hết, liền ra nói với chơn-nhơn rằng: Việc ấy đã xong, chắc là Hoàng-hậu cũng đồng tu với trẫm.
Ngặt vì còn Thái-tử tuổi đã lớn rồi, xin thầy toan liệu giùm trẫm.
Chơn-nhơn ngồi nghĩ một hồi thưa rằng: Như vậy xin Bệ-hạ cho Thái-tử hay coi ý Thái-tử làm sao? Như muốn xuất gia thì càng tốt lắm. Còn như muốn nối ngôi truyền,
thì Bệ-hạ cũng an tâm rảnh việc.
Ngươn-Chúa liền trở vào điện cho quân báo Thái-tử hay. Thái-tử lật-đật hồi giá tung hô. Tâu rằng: Muôn tâu Hoàng-phụ, chẳng hay đòi con có việc chi? Xin phụ-hoàng dạy biểu.
Ngươn-Chúa nói: Trẫm bấy lâu lo bề xã-tắc hơn mấy mươi năm, sắp đặt công việc cung điện đều sẵn cho con. Ðến nay cha đã tuổi già sức mỏi, không thể trị-vì đặng lâu. Lại đêm nọ cha thấy ông cố của con về cho cha hay... Ngươn-Chúa thuật chuyện cho Thái-tử nghe v.v...
Thái-tử thưa rằng: Trăm lạy Hoàng-phụ, chẳng hay Hoàng-phụ ngày trước có vị đại-đức nào cao kiến điều lý cho Hoàng-phụ nghe trước chăng?
Hay là nghe mấy lời của ông cố con mà Hoàng-phụ tỉnh như vậy.
Ngươn-Chúa nói: Nhơn việc ấy cha cũng có vưng lời của ông và cũng nghe các vị đạo-đức, cùng thấy trong cuộc phong hóa càng ngày càng tệ, quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử. Các việc đều giả dối cả thảy. Nên cha muốn tìm đường giải thoát. Nay cha kêu con hỏi thử, như con muốn xuất gia tu hành theo cha thì ngày sau phụ tử tương phùng cộng lạc, cửu-huyền thất-tổ gặp nhau. Bằng không muốn thì cha giao xã-tắc lại cho con chấp chưởng tự quyền đặng cha nguyện trai-giới trọn đời, trả ơn sanh phụ mẫu.
Thái-tử tâu rằng: Muôn cầu Phụ-hoàng có muốn tìm đàng tu niệm đặng giải thoát thân nầy, thật việc đó cũng chưa thấy. Chớ hiện thời đây Phụ-hoàng có việc chi nặng thì con sẽ thế cho Phụ hoàng an lòng đãi hậu. Ngươn-chúa thấy Thái-tử không chịu, thầm lập một kế rất hay.
Ðêm nọ Ngươn-Chúa nghỉ, lúc nửa đêm thức dậy lấy mấy cái án đại hình xé hai và đóng dấu vào đó. Kêu Thái-tử hỏi rằng: Chuyện nầy trong điện chỉ có Thái-tử đương quyền dám làm, hay là ai vào mà làm như vậy? Thái-tử quì lạy tâu rằng: Muôn tâu Hoàng-phụ, việc ấy là việc đại sự, con đâu dám làm như vậy! Tuy đã biết con là con, nhưng mà do quyền nơi Hoàng-phụ. Như việc ấy xảy ra, án tờ đều hủy mà có ấn khuyết trên đây thì ắt bá quan khó nghe cho Hoàng-phụ. Thiệt con không dám như vậy.
Ngươn-Chúa rằng: Phải rồi, nếu như điều ấy thì con cũng không nên cầm cha làm chi nữa! Cha biết cuộc đời là giả dối, phụ tử đều không, quân thần chẳng có, cha đã muốn thoát mà tránh ngõ luân-hồi đặng chuộc tội ngày xưa. Con lại nói có gánh nặng thì con thế nổi. Ðến nay có một chút như vậy mà con cũng tự quyết không chịu! Vậy con đừng cản cha nữa.
Thái-tử nghe cha nói như vậy hết lời phân cản, liền trở lại hậu-cung.
Ngươn-chúa cùng Hoàng-hậu đến trước Khưu-Trường-Xuân xin cầu học đạo, trai-giới đặng hơn một năm, rồi định ngày mời bá quan cùng Thái-tử giao hết giấy tờ ấn-khuyết cho Thái-tử chưởng quyền, bá quan còn y như cũ. Sắp đặt như trước sau an bài rồi luyện đạo. Tu đặng hơn ba năm thuần dương qui túc. Ngươn-Thuận-Ðế đặng đơn thơ lai chiếu về trước. Hoàng-hậu cũng đặng minh-tâm kiến-tánh, về sau. Trường-Xuân đưa đón xong rồi,
cũng ở tại Bạch-Vân-Quang tu dưỡng.
Lại nói việc mấy thầy trong Bạch-Vân-Tự đi ra ở mấy chùa khác, có một bữa nọ hội nghị bàn luận rằng: Việc cảnh chùa của mình bị Khưu-Trường-Xuân chiếm lấy, như vậy thôi sao? Có một người háo sự tôn mình là Ðổng-Phong-Giám nói rằng: Theo ý tôi, đến trước Bạch-Vân-Tự làm một tòa Tây-phong, đặng cho hư chùa Bạch-Vân.
Mấy ông hỏi: Làm sao hư đặng?
Phong-Giám nói: Chẳng nghe người xưa nói: Phong thủy sợ người ếm. Nay đem cái Tây-phong thổi tan chùa Bạch-Vân thì làm sao không hư? Chúng tăng nghe nói đều cười lớn rằng: Phải! Rồi làm một cuốn "Viên bộ quyên tiền".
Có một ông chữ giỏi, đặt bài tựa đọc cho thiền-sư nghe, cầu ông làm đầu, xin phép quan làm tòa Tây-phong thổi Bạch-Vân-Tự v.v...
Thiền-sư coi rồi cười lớn rằng: Ai bày việc nầy cho mấy người?
Chúng tăng thưa Ðổng-Phong hòa thượng bày.
Bạch-Vân thiền-sư nói: Ngươi muốn làm gió tây mà thổi Bạch-Vân-Tự là ý sao?
Ðổng-Phong rằng: Bọn tôi muốn báo cừu cho thầy.
Thiền-sư nói: "Oan gia nghi giải bất nghi kiết". Từ khi Phật khai giáo đến nay biểu cùng người kết duyên giải oan, chưa có nghe biểu người kết oan bao giờ. Việc nầy là tại mình thua người ta, tại mình không có phần ở chỗ đó, nên khiến phải đi như vậy. Người xuất gia tu hành thì tứ đại đều không, một trần chẳng nhiễm, có cái cừu gì mà báo? Xưa Phật bị Ca-Lợi-Vương cắt xẻ thân thể, Phật không oán hận, cho nên chứng đặng đại hùng bất sanh bất diệt, có phải là tại chỗ nhẫn nhục nhơn từ, ép mình nhượng chúng, các việc đều chịu thua, như vậy mới có thần thông đều đủ. Nay mình có tu cũng noi theo đó mà bắt chước hạnh Ngài thì mới mong chứng quả, sao lại còn muốn gây oán? Trong cửa Phật phải lấy chỗ không mà thuyết pháp, không không hết thảy, vô ngã vô nhơn, bất thinh bất xú. Ðã không có chỗ nhơn ngã thì có oán giận chi mà trả cừu? Có gió chi mà thổi? Khưu chơn-nhơn cùng ta không có chỗ oán hận, tại ta thua nên phải giao cho ông, không phải ông cưỡng đoạt của mình. Vả lại Thiên-Tử đã xuất bạc kho cất tại hoàng đồ nầy một cảnh chùa, thì an rồi. Ngươi nay còn bày sự sanh đoan. Như trên Thiên-Tử hay, sợ ngươi gánh nặng không nổi. Ta chẳng dự việc ấy.
Thiền-sư nói rồi đi tịnh dưỡng.
Chúng tăng nghe nói thảy đều tỉnh ngộ, đem việc Tây-phong cùng sổ bộ đốt hết,
rồi tan đi ở đậu các chùa.
Lại có mấy ông biết phá phong thủy, thêm có mấy người tự thị, gặp ai cũng khoe nói quyên tiền đặng làm Tây-phong thổi tan Bạch-Vân-Tự ở không bền phải đi. Không dè trong chùa Bạch-Vân có người biết đối lại, trả lời rằng: Hễ mấy ông làm tòa Tây-phong, tôi làm một tấm vách cao giống cái quạt, đợi gió thổi tới lấy cái phản phong quạt một cái tan liền.
Có một người nói lớn rằng: Mấy người làm phản phong để tôi đi bỏ lửa.

Trở lại trang mc lc

Thư Viện 1      4   5