SUY TẦM CHO CẠN MẦM CHÂN LÝ
   NGÀY 01 THÁNG 08 NHÂM TÝ
  Đồng Tử : Huệ Quang
   Đọc Giả : Ánh Hồng

Thi
KIẾN Đạo mạt đời dễ mấy ai
ĐỨC căn tiền kiếp đã sâu dày
THIÊN môn đắc nhập, luân hồi thoát
QUÂN chủ tâm linh, Đạo Pháp khai

                  Ngã chào chư Thiên mạng, chào Sư Trưởng. Giờ nay Ngã được lịnh giáng báo tin có đức     NGÔI HAI GIÁO CHỦ lâm đàn. Chư hiền thủ lể tiếp nghinh, Ngã hộ đàn xuất ngoại. Thăng
TIẾP CẦU

Thi
NGÔI báu chờ con ở Ngọc Kinh
HAI đường lên xuống nẻo hành trình
GIÁO lành tùng thính, Thiên hồi bổn
CHỦ thuyết bất tuân, khổ vạn nghìn.

      Thầy các con, Thầy mừng chư môn đồ. Thầy miễn lễ các con an tọa thiền nghe Thầy chỉ bảo.

Thi
Tá bút giờ nay trước điện tiền
Đôi lời cao thấp nhủ cùng khuyên
Suy tầm cho cạn mầm Chân Lý
Đạo Pháp luyện trau đáo vị nguyên.

Nầy chư môn đồ! Đã dầy công tu luyện, đã gian khổ học hành tất nhiên các con đã am tường Đạo Lý cũng như Đạo Pháp. Bảo là HIỂU TẤT CẢ thì không đúng, chớ nói là hiểu một phần đó là một điều không ai phủ nhận được. Đã học tập được như thế, đã luyện trau được như thế, thì nấc thang tiến bước chẳng còn lại bao xa. Các con hãy kiên nhẫn lần dò hầu sớm trở về vị cũ.

Thi
Thế sự thăng trầm gát ngoại tai
Âm dương bồi đắp Huệ Tâm khai
Như như sớm tối đừng xao động
Cười nói bên ngoài Tâm chớ thay!

Thi
Hỷ, nộ khá gìn, Đạo suốt thông
Nhân gian lắm chuyện chớ ghi lòng
Đạo lành hằng giữ Tâm trì niệm
Tứ buổi công phu giữ vẹn xong.

Thi Bài
Đời giả tạm chẳng chi là quý
Thức tỉnh rồi lập chí tu thân
Lộn quanh lên xuống cõi trần
Sang hèn, khôn dại bao lần đau thương
Sinh, Lão, Tử bốn đường gánh chịu
Bao khổ sầu liệu điệu vương mang
Có thân ở cõi trần gian
Phải đành chịu khổ rên than được nào
Ráng tu niệm được vào Thượng Giới
Cõi Hư Vô thơ thới nhẹ nhàng
Liên hoa thân xác thanh trang
Muôn đời tồn tại, muôn ngàn toại vui
Đạo đắc thành yên ngồi hưởng lạc
Lúc tu hành gay gắt long đong
Chớ nên lơi lãng nơi lòng
Vị Tiên phải mất, trần hồng trầm luân.
Lời chỉ bảo khâm tuân tất cả
Xét lại lòng Đạo đã dụng công
Đến chừng trở lại non bồng
Mới mừng hưởng phúc trần hồng tạo gây.

Thi
Gây ra thiện phúc hưởng ngày sau
Luyện tập Bí truyền kẻo tắt mau
Tiên Phật ngày xưa đều học đó
Đắc thành phẩm vị, chín từng cao

Thi
Sớ khải minh trình học Đạo Tiên
Chứng lòng Bình trẻ có Tâm thiền
Vững lòng bước Đạo lo tu tiến
Từng bước đi lên đoạt phẩm Tiên

Thi
Hà Thanh đồ đệ có điều chi
Thỉnh giáo Tôn Sư chỉ rõ tri
Bát Nhã Chiếu Minh đang thẳng tiến
Trưởng đồ nghi vấn bạch tường tri!

      Bạch Sư Phụ: Thân nầy đã hiến hết cho Thầy quản cai, phần tớ chỉ chực chờ nghe mạng lịnh và thi hành. Nếu có xin hỏi nầy hỏi nọ cũng là ý tục mà thôi, thế nào bề trên tư vị được.
Về đời Thân Phụ con đã dạy cách đây 39 năm . . . .

Nơi thế sự lo gì không ích
Miễn làm sao như tích Thích Ca
Đặng vầy ấy đẹp lòng ta
Hơn là xác thế làm ra Tháp Đài
Con khôn lớn học tài trí rộng
Chuyện trần trao, khổ thống phần con
Chẳng còn dạ nọ thon von
Chẳng còn bịn rịn như con ở trần
Cả khiếp sợ cái thân ở thế
Nay rảnh rồi hơi uế lánh xa
Việc trần khá liệu thay là
Chi chi cũng có Thân Già hộ con. . . .

Về Đạo năm Ất Dậu (1945) lúc con lìa nhà ra đi tản cư, bỏ lại tất cả để tránh họa hoạn,

Sư Phụ có an ủi và bảo đảm :
Thong thả lo tu cũng có ngày
Hiệp hoà Nam Bắc với Đông Tây
An lòng bàn khách thời Đông Chí
Nung chí luận trần cuộc trước mai
Hồ hớn rẽ phân còn tái hiệp
Non sông chia cách gặp thời lai
Ân trên đổi lại xoay Huyền     (\ ) Sắc (/ )
Muôn việc chi chi cũng có Thầy

Lấy 8 chữ đầu câu ra hai chữ Thanh Năm là tên của hai vợ chồng con. Chữ Năm dấu ă nằm ngửa, là sáng sủa mà lấy chữ â của chữ ân thành ra nằm sấp là đen tối . Ngày kia Ân Trên xoay chuyển lật ngược huyền sắc lại, cái mũ lật ngửa hoàn nguyên dấu ă. Hiện thời là Họa mà sau là Phước, và được sự đảm bảo của Thầy theo câu kết :

Muôn việc chi chi cũng có Thầy
Còn chi mà phải hỏi thêm.

Cả đời lẫn Đạo đã được Sư Phụ bảo trì chu đáo rồi.
Con luôn luôn đặt việc Đạo trên hết. Giờ nay có thanh niên Bình dâng Đại Thệ, Thầy đã điểm, còn anh Ung Thiện Tích thuộc phái Tây Ninh đã dâng khải tại tư gia và lần thứ nhứt hầu đàn cơ, con xin Thầy từ bi chỉ dạy đôi điều hầu nung chí và khai thị cho ánh sáng tỏ về chân lý.
Lành thay! Lành thay!

Thi
Đạo Pháp bao la rất nhiệm mầu
Tâm lành muốn rõ chỗ cao sâu
Lẽ đâu quản ngại không từ chiếu
Thiện Tích hiền nhân bảo hảo cầu
Vạn Pháp quy Tâm, Tâm phẳng lặng
Đạo thành nguyên Bổn, Bổn thâm sâu
Biển lòng trang lặng Minh Châu xuất
Vạn pháp không ngoài nhứt Lý chơn.

Thi
Đôi đoạn nhủ khuyên đệ tử nhà
Mãn giờ trở lại chốn Thiên Tòa
Cầu vong tiếp tục chư môn đệ
Mãn điển giã từ pháp dung đa .

Chư phận sự nghe sắc lịnh bãi đàn 10 phút, tái lập Dũng Kim Quang thủ cơ,
Ngọc Ánh Hồng đọc giả.

Ngâm
Mãn giờ điển rút về Nguyên
Giã chư nam nữ cảnh Tiên lai hồi. Thăng
TÁI CẦU

Thi
LINH pháp xưa nay khắp vũ hoàn
QUANG minh nhờ luyện Khí Thần an
THỔ sơn xá lợi vuông tròn chiếu
ĐỊA chất kim cương báu ngọc mang .

   Địa chào chư nam nữ, chào Sư Trưởng Hà Thanh. Giờ nay Địa được phép lai đàn với đôi lời trình bạch, chư hiền an tọa lắng nghe.

Thi
Nghiêm nghị thủ thi phải dị kinh
Tưởng nay Ông Địa đổi tâm tình
Không ngờ Ông muốn chư hiền sợ
Dâng rượu, dâng Đào, Bụng rộng rinh.

GHI CHÚ: Ông Địa luôn luôn có nụ cười hấp dẫn, tượng trưng cho vui Tánh. Hôm nay thủ thi thấy nghiêm nghị, chẳng đùa vui, thấy kinh dị như thế , tưởng là đã biến đổi vô thường nào dè Ổng muốn cho ai nấy đều sợ để lo lót cái Bụng chang bang ấy chớ có gì khác đâu.
Cái bản thể Hư Không của Tự Tâm bao giờ cũng là Thường Lạc, bất biến, rộng bao la, chứa đựng tất cả, chẳng chấp, chẳng bỏ dù phải quấy, thơm thúi, lành dữ, đều chứa đựng được hết.
Chỉ vì muốn cho tất cả môn sinh của Tâm Pháp phải kính nể lo cấp đủ đầy Linh Quang Tánh Dụng, nếu thiếu thốn rượu Đào là Điển Huệ thì vô minh xen vào đòi hỏi, vọng tánh dấy lên, mất lạc thú, biến đổi lăng nhăng sanh sóng gió, mất phẳng lặng an nhiên, rối trật tự mà phải khổ vì Ngôi Chủ bị tôi tớ xỏ xiên, Sư Trưởng bị đồng tử quấy rối v.v...

Thi
Cười cho lũ trẻ nói lăng nhăng
Bầu gánh làm sao? Vị Trưởng Tăng!
Kép chánh, kép hờ sao lắm chuyện
Tuồng đôi, tuồng chiếc, ngộ hay chăng?

GIẢI: Như thế Ngôi độc nhứt đã phân hoá làm hai: kép chánh, kép phụ, có đôi, có chiếc trong một tuồng Đạo có ngộ chăng, còn nguyên vóc tốt lành chăng?
Địa xin đố chư điển ký biết được nơi nầy ai là Bầu gánh. Hãy bạch Địa tường?
GIẢI: Ai biết được nơi Tiên đàn là Tâm Đạo, vị nào Chủ động điều khiển, vị chỉ huy Trưởng ấy?
Tất cả đều lặng thinh. Hà Thanh hỏi: Việc gì đây? Trẻ nhỏ đã nói gì mà có Bầu, có kép đây.
Ai rõ nói lên nghe?
Bình bạch: Khi nãy con nghe Ánh Hồng nói với Huệ Quang: Mau đi! Coi chừng Ông Bầu rầy đa! Huệ Quang cười đáp: anh là kép chánh, tôi là kép phụ mà!
Cang bạch: Theo ý con thì Ánh Hồng là bầu gánh của đồng tử, còn Huệ Quang là kép.
Cười, cười! Nào phải là như thế. Nếu như thế thì Ngọc Ánh Hồng phải chịu nặng đòn hơn.
Trò Bình lên gần Thiên Bàn bạch trình Địa rõ!
Bình bạch: Lúc sửa soạn lập đàn tái cầu, nghe tiếng chuông báo hiệu, ai nấy lũ lượt vào đàn, chúng con còn ở tại nhà dưới, gấp rút mang y cân thì Ánh Hồng hối hả bảo Huệ Quang mau lẹ đi, Ông Bầu rầy đa và hai người nói cười lăng nhăng gì đó, con không nghe rõ cho hết, con bận phần con cho kịp.
Cười, cười! Như thế trò Bình có biết là Ánh Hồng bảo ai là Ông Bầu hay chăng?
Bạch: Tâm ý của nó thì tự nó biết lấy, con không dám quả quyết
Trò Bình an tọa! Như thế có phải hay không Ngọc Ánh Hồng?
Bạch: Con là đồng tử, ấu thơ khờ dại sống với vọng tâm vô thường, vui đùa nói lăng nhăng tưới xượi theo bản năng mê muội. Con muốn trình bày thêm nhưng không biết phải nói như thế nào, nên thà không nói còn hơn. Con không dám nói hết ý mình.
Cười, cười! Nếu như trò được phép nói thêm thì trò sẽ nói như thế nào. Bạch Địa tường!
Bạch: Con không dám nói thêm gì nữa, vì với Tâm ngu muội nói thêm sẽ bị rầy thêm, không nói bị rầy ít.
Bề nào cũng bị rầy
Cười, cười! Biết nói là bị rầy, bị quở sao cứ mãi nói nhăng?
GHI CHÚ:
(Vọng tưởng, vọng hành là trái với Bản Tâm, sao còn theo đuổi mãi, không im lìm cho hạp bản thể tự tâm)
Bạch: Khi phát lên nói thì cứ cười nói, đâu có biết là nói bâng quơ bậy bạ
Giờ nếu Địa bảo rằng hiền hãy nói hết điều của đệ hiền muốn nói, rồi Địa sẽ tha cho, bằng không nói tiếp, Địa sẽ phạt. Đệ hiền thấy thế nào?
Bạch: Con nghĩ những lời của con, do tâm mê phát ra, nếu không trau sửa được, dù có lớn lên đi rồi cũng là lời phàm phu tục tử, không bao giờ hợp ý Tiên Thánh là Bản Tánh. Với Tâm đen tối hiện giờ làm sao tránh được bẩy rập đang chờ con. Thiếu Linh Quang thì Thổ Địa gài bẩy để hình phạt con, nên con phải ngừng lại, không dám sấn tới, bước thêm nữa
Cười, cười! Địa có gài bẩy ai bao giờ. Chẳng lẻ Địa lại nói dối với trò sao?
Vậy Địa muốn nghe trò nói tiếp câu mà trò ngừng nữa chừng vì sợ bị quở rầy,
tưởng nên hiểu khi nói ra điều đó sẽ bị rầy nên lập tức ngưng ngay.
Đã sai đường mà biết sợ, nhận sai và dừng lại là tốt rồi
Điều đó là một điều đáng khen, chớ đâu phải đáng trách.
Nói như thế chớ Địa (tâm) cũng không bắt trò phải nói tiếp những lời phàm phu tục tử ấy ra làm gì.
GHI CHÚ: (Bản Tâm không thúc dục phàm tâm tiếp tục sanh vọng niệm làm gì, để cho nó tự dừng đúng lúc để không kẹt thêm vào tội vạ )
Nhân đây, Địa cho trò biết một điều hệ trọng là nhờ công khó của “mẫu thân” trò đã tụng nhứt bá KIM CANG cùng với công lao gian khổ hành đạo của trò mà Nội Tổ là Lê văn Học cùng Phạm thị Keo và Ngoại Tổ là Nguyễn văn Lễ cùng Trần thị Giỏi được siêu thăng về Phổ Đà Sơn tu dưỡng,
không còn ai bị tội tình nơi âm phủ nữa.
Việc lai đàn còn phải chờ thời gian, khi nào thuận tiện. Chừng đó sẽ được tin để trò lo.
Hiện giờ nhiệm vụ của Địa đối với trò đã hết.
Những điều Địa làm cho trò bực bội, Địa khuyên trò đừng phiền trách Thổ Địa nghe trò!
Ánh Hồng bạch:.. . . . . . . . .v. v..
Lành thay! Lành thay! Giờ chư phận sự lo tiếp cầu vong Nguyễn Thị Tám. Địa xuất cơ dẫn vong .
CHÚ GIẢI: Đây là Tâm Pháp Đại Học, hãy bỏ LỜI để rõ LÝ .
Từ trước đến giờ, tín đồ trong tôn giáo quan niệm theo lòng phàm của nhị nguyên tin tưởng kiếm tìm Trời Phật ngoài lòng và hiểu Cửu Huyền Thất Tổ của xác thịt nên hay cầu vong cho Ông Bà, Cha Mẹ mãn thế, theo tín ngưỡng thấp hèn của tình cảm và được chỉ dạy phải trì tụng một số kinh như: KIM CANG, DI ĐÀ, VU LAN v.v . . . rồi vong linh được nhập cơ tiếp xúc với con cháu trần gian.
Tôi đã giải rõ điều nầy cho các cháu trong Bùi Gia khi cầu vong Nguyễn thị Giang, bạn xem kỹ lại.
Hôm nay gặp cơ hội tốt do Thổ Địa nêu lên, tôi minh lý thêm. Đồng tử Ngọc Ánh Hồng là Lê văn Sanh được dùng làm con cờ, kép hát đóng vai trên sân khấu để luận đạo.
Sư Trưởng Linh Quang Chơn Tánh dạy học sinh đồng tử phàm mê vọng tánh, cũng nói Thiên Tánh dìu Nhơn Tình.
Quen theo bước đường phổ độ trước kia và đã thâm nhiễm ngoại giáo, mặc dù hai năm nghe Đại Thừa Vô Vi chi lý, hôm nay Ánh Hồng vẫn còn phải đóng vai trò ngu trẻ dại vì sống với mê tánh bị Lương Tâm (Địa) quở phạt mãi .
Lục Tổ nói: “Người mê khẩu tụng – Kẻ trí tâm hành”
Cả mẹ lẫn con đều mê, nên giả hành, giả tụng theo ngoại giáo, chấp trước: sắc thinh, hình, tự là hồng trần vạn ban giả. Chừng nào mới có ngày thuận tiện cho nhập Tiên Đàn ấy, cho trúng ý Thánh .
Phải hiểu theo Chơn Lý Tâm Pháp, đừng làm theo phàm pháp xưa nay:
1- KIM CANG Vô Tự Chơn Kinh là Vàng ròng nguyên y, Tạng TÂM bất diệt hằng hữu tự tại.
2- MỘT TRĂM BIẾN chỉ số tròn đầy 100 phần 100
Đủ 2 yếu tố : Phẩm - Lượng
Dùng số 10, 100 , 1000 , 10.000 gồm số 1 và số 0 (không) ám chỉ Nhứt Khí Thái Cực và Vô Cực chi khí, một khối nguyên thỉ Mẫu Tử danh Tiên Thiên Hư Vô Nhứt Khí.
Nhờ công hành đạo của con, trì tụng Kim Cang của Mẹ góp lại mà Nội Ngoại Tổ Tông sẽ chờ ngày thuận tiện được nhập Huyền Cơ Diệu Pháp.
Có hành động như thế thì đã có phương tiện rời bỏ chỗ thấp hèn để lên cao gọi là thăng về Phổ Đà Sơn, yên tâm định trí, khỏi tội tình vương vấn, vô minh giam hãm, nói là âm phủ.
Tất cả đều ở lòng ta
Âm Dương Ngoại Tổ là vòng ngoài Lạc Thơ, Nội Tổ Ông Bà là vòng trong Hà Đồ. Trong ngoài hiệp nhau cả Tiên Hậu Âm Dương về Trung Ương Thổ, Linh Quang Chơn Tánh hiển lộ. Nhiệm vụ của Thầy Địa luyện tập Huyền Cơ cho đồng tử đã hết.
Danh tánh dùng đặt tên cũng đầy ý nghĩa nên Thổ Địa vạch trắng ra cho thấy: Môn Sanh, Giỏi Học Lễ, Keo sơn gắn bó, chừng đó sẽ có “Tin Lành” Từ ngữ Vong Hồn, Vong Linh có nghĩa: Vong có nghĩa là quên, là mất cái Linh Quang Tánh Sáng còn lại mê tâm. Phải nhờ phương tiện của Đạo Pháp để phục hồi Huyền Quang cho Tâm Đăng tỏ rạng, nền trời đen tối có trăng sao, ngày có Nhựt diện. . . . .
JÊSUS NÓI: “ Con người cần phải sanh lại mới vào nước Thiên Đàng” là LÝ ấy. Với Ánh Hồng xin cầu vong cho Ông Bà mà sanh tiền không tu đã chỉ xong.
Kế đến thêm một trường hợp cho tôi dẫn giải để lấy đó làm đề tài cho người trau đạo suy gẫm!
Các con của Đào văn Đủ và Nguyễn thị Tám xin cầu vong cho Mẹ, Cha đã được cầu rồi. Lúc sanh tiền hai ông bà có lãnh y pháp tu luyện nhiều năm theo pháp Đại Thừa đến mãn kiếp, không sa ngã nhưng chưa đạt Tiên Vị, phần Thiên điển yếu ớt, chưa đầy đủ chơn dương vì không hiểu và không làm đúng pháp. Ông thì có kết quả giai đoạn đầu, do đó thích làm Thầy giải, chữa bịnh với bùa phép theo sự truyền dạy của Sư Ông ở núi xuống để cứu độ chúng sanh. Bà lại dại khờ, tu lấy lệ mà thôi, bị xiềng xích với con cháu, rốt cuộc có tu mà không được hoàn quy tông bổn như cây yếu ớt, èo ọp mọc trên sành sỏi không có trái được.
Khi tá cơ ngày 1/11 Tân Hợi, ông Đào văn Đủ điểm danh các con trai, gái và dạy phải lo tu. Hiện đàn hôm ấy có bốn trai là Dể, Vâng, Truyền, Nhân và hai gái là Kim Trâm, Ngọc Diệu. Hiệp lại có nghĩa Cha về đây “Để dâng truyền nhân” vật báu quý Kim Trâm Ngọc Diệu, vàng ngọc mầu vi của Từ Phụ.
Cầu Vong linh phải nhờ Thổ Địa đưa rước là “ Người đã mất Ánh
Sáng, đui mù, phải nhờ sự dìu dẫn soi đường của Bản Tâm.”
Lời dạy của Linh Quang là tiếng nói của Lương Tâm, Lương Tri và Lương Năng đó.
Bạn đã biện phân minh bạch ý nghĩa của sự cầu vong theo Lý Đại Thừa và ngoại giáo.
       

                                    Trở Lại Thư Viện