TÂY DU CHƠN GIẢI

Đàn HÀ THANH Tuất Thời 13.07.AL.86.
CĂN NGUYÊN NGỘ KHÔNG
BỰC NGUYÊN CĂN TU TRỄ
ĐỒNG TỬ – HUYỀN ĐỒNG
CHƠN DƯƠNG CHÁNH ĐẠO
TRUÔNG THẤT TUYỆT NGỘ KHÔNG.

HÀ THANH CHƯỞNG GIÁO
Thầy mừng các con – các con hãy ngồi nghe Thầy dạy.
THI
Thầy giải Chơn Kinh để trẻ minh
Hồi quan phản chiếu rọi Tâm mình
Bao nhiêu kinh báu tùng Tâm xuất
Vạn pháp do Tâm phải rán gìn.
Tâm khởi niệm thì vạn pháp sanh
Tâm còn vương niệm Đạo chưa thành
Khi ngồi con chuyển Châu Thiên Vận
Phải để Tâm Không tiếp Điển Linh
Cái Tâm là gốc ở Tiên Thiên
Vào chốn trần ai chịu lụy phiền
Bị nhiễm hồng trần ô trược khí
Nay lo phản bổn kíp Hườn Nguyên.
Hườn Nguyên là trở lại Cung Thiên
Ấy gọi là Ly phản vị Kiền
Nước trở lại Trời - Tinh Hóa Khí
Lửa quay về Đất - Khảm hườn Khôn.
Càn Khôn phục vị đắc trường sinh
Ấy gọi là Nhơn đắc Nhứt Thành
Đắc Nhứt là gom Ba Báu lại
Hiện thành một thể Vóc Kim Thân.
Vóc Kim Thân là ngoại hữu thân
Phật gọi Liên Hoa ấy Xác Thần
Bỏ xác phàm phu nương Xác Phật
Niết Bàn trở lại hưởng hồng ân.


Chỗ Yếu Diệu công phu tu hành là phải kết Kim Thân. Có Kim Thân mới chắc rằng mình Thành Đạo, Giải Thoát. Khi bỏ xác trở lại cội nguồn thì còn phải tiếp tục tu luyện tinh tấn ở những cảnh giới cao hơn. Bỏ xác đắc phẩm vị chưa phải là đã hết tu. Có được Kim Thân là đã có cái nền tảng căn bản rồi, đã qua giai đoạn khó khăn rồi, từ đây không
còn trở ngại vì tai tinh ma nạn nữa, từ đây mới bắt đầu học cái Lẽ Nhiệm Mầu của Tạo Hóa.
Có trường hợp Bực Nguyên Căn khởi tu trễ nãi, bắt đầu học Đạo thì tuổi đã cao. Học chưa bao lâu rồi chết, như vậy sự kết quả sẽ ra sao!? Thầy đã giải về ba hạng Đào của ba hạng người tu, đó là Công Lệ Thiên Điều:
- Tuổi ấu niên mà biết Đạo sớm tu thì còn được phần Tinh Ba tốt đẹp, hưởng phần Đào Thượng.
- Trung niên tu học thì đắc Đào Nhì (trung).
- Lão niên tu học thì đắc Đào Hạ.
Tuy nhiên nếu người tu trể mà Căn Đức Lớn, tạo Âm Chất nhiều thì đây là trường hợp ngoại lệ.
Bởi nay là Tam Kỳ Ân Xá được hưởng Hồng Ân Thượng Phụ, sự thiếu sót đó, Thầy sẽ do công quả mà ban ân cho dù công phu chẳng đủ, Hườn Đơn chẳng trọn. Trường hợp này Thầy sẽ báo Điển trợ Đơn cho tròn Tam Phẩm hoặc Nhị Phẩm. Con khá hiểu đây là do Hồng Ân mà thành tựu chớ không phải do chỗ công phu mà phục hồi sự mất mát.
Phật ngôn có câu:
…Sớm mai nghe đặng Đạo Mầu
Tối dầu có thoát khỏi hầu họa sa…”
Có lắm Bực Linh Căn, hoặc hàng Tiên Thánh, trước xin với Thầy vào độ thế, nhưng khi vào trần rồi cũng mê trần, cũng đọa vì trần. Những hàng căn kiếp ấy, khi Thầy chiếu Điển tới lúc thì tỏ ngộ, lo tu tinh tấn độ đời, hoặc giả tu được một năm rồi bỏ xác. Trường hợp này Thầy phải xét công quả rồi ban Ân Huệ cho mới được Hườn Đơn Đắc Đạo.
Trường hợp những người trung niên tu học, Thầy điển hình như Huệ Mạng Kim Tiên, thân phụ Ta đó. Khi biết Đạo gặp Thầy khởi Tâm tu hành, đâu đặng 1, 2 năm rồi bỏ xác, lòng đinh ninh là chỗ công phu làm sao trọn vẹn, làm sao Hườn Đơn đoạt phẩm, nhưng nhờ căn đức đủ đầy có được Âm Chất nên được Đại Từ Phụ ân ban Hườn Nguyên Tam Phẩm, đắc Huệ Mạng Kim Tiên. Đó là nhờ Hồng Ân Thượng Phụ mà cũng gặp kỳ Đại Ân Xá vậy.
Sự tu học tại tiền dầu cho thiếu sót, miễn là biết tu, một lòng ôm chắc mối Đạo, ráng tạo công quả, tài bồi Âm Chất, chi chi cũng do Thầy “Đắc Đạo Cũng Do Thầy Mà Thành Đạo Cũng Do Thầy”.
Thầy giải về các Đồng Tử, Tiểu Thánh ở trong Thiêng Liêng Hư Vô Cảnh. Những Đồng Tử này không có Kim Thân.
Thanh Vân Đồng Tử là Hư Không Chơn Tịnh Điển.
Bạch Hạc Đồng Tử là Thái Dương Điển, là tia sáng Nhựt Quang. Sức sáng ấy vận tốc trong 1s (giây) là 360,000 km, đó là cái chớp cánh của Bạch Hạc Đồng Tử. Những Đồng Tử này Phật gọi là Chư Thiên. Tiên gọi là Thiêng Liêng,
Thiên Chúa gọi là các Thiên Thần.
Trường hợp 1 nguyên nhơn đắc Đạo trở về, được sắc phong phẩm vị thì tùy thep phẩm vị Phật hay Tiên mà có những Đồng Tử đến hầu lệnh để phục sự cho vị Tiên – Phật ấy.
Như trường hợp của Thầy có Bạch Hạc Đồng Tử hoặc Thanh Vân Đồng Tử phục sự hầu lệnh. Những Đồng Tử này đông không kể xiết, gọi là vô lượng vô biên, hằng hà sa số. Chơn Tịnh Điển của Thanh Vân Đồng Tử lại còn siêu việt hơn Thái Dương Điển của Bạch Hạc Đồng Tử.
Đó là Thầy mới kể thần thông của Bậc Tiểu Thánh. Còn thần thông của Tiên Phật thì vô lượng, pháp nhiệm khôn lường. Sở dĩ Thầy giải minh như thế là để các con hiểu rõ thêm chi tiết vậy thôi, chớ tất cả chỉ là Một. Các con biết Phản Bổn Hườn Nguyên, Đồng Nhứt với Đại Từ Phụ là như thế nào? Thượng Đế Đại Linh Quang là Chủ Quyền Vũ Trụ thì Vô Cùng Tận là Hư Không Chơn Tịnh Điển. Tất cả các hiện tượng đều là Một. Thầy ví như thân thể con người, đầu mình tay chân là một vóc, là bất khả phân. Nhưng nếu phân tích ra từng chi tiết nọ này thì là riêng. Đồng mà chẳng đồng, nhỏ lớn khác nhau, thấp cao khác bực. Sự hiệp cùng Tạo Hóa, Huyền Đồng Vũ Trụ, Đồng Nhứt với Chí Tôn không có nghĩa là ngang hàng với Chí Tôn. Thầy hằng nói “Thầy Là Các Con, Các Con Là Thầy”. Tất cả các hiện tượng Nhựt – Nguyệt – Tinh Tú – Địa Cầu đều nằm trong Hư Không tức là trong Bản Thể của Thầy, thì cũng như trong thân các con có Tim – Can – Tỳ – Phế – Thận vậy. Hiệp tất cả những Tiểu Thể lại làm một để thành ra Đại Thể, còn phân chia ra Vạn Thù thì là Cá Thể.
Con người tưởng rằng tất cả các môi trường hoạt động của các đẳng chúng sanh, các sinh vật, những cảnh giới Địa Cầu, Nguyệt Cầu, Tinh Tú là riêng biệt nhưng kỳ thật tất cả đều ở trong một cộng đồng Vũ Trụ cũng như tất cả những cơ vi trong thân các con vậy. Nhơn Thân là Thái Cực Đồ, là Tiểu Vũ Trụ. Thiên Đàng, Địa Ngục, Âm Dương, Tứ Tượng, Bát Quái, Ngũ Hành, Phật, Chúng Sanh cũng là trong ta.
Muốn hiểu Đạo thông suốt Chơn Lý thì hãy tìm vào trong ta, cầu nơi ta, phải học trong Tâm Linh Nội Giới. Hiểu rõ được mình rồi, từ trên xuống dưới đã thông suốt được rồi, không còn ngăn ngại thì tự nhiên các con biết được Vũ Trụ dễ dàng.
Phản Bổn Hườn Nguyên là trở về nguồn cội. Đồng Nhứt là hiệp cùng Đại Bản Thể. Trong Đại Bản Thể ấy cũng có biết bao nhiêu là Tiểu Thể không thể lường được, bất khả tư nghì. Xã hội loài người, nhơn loại sống trên Mặt Đất này tưởng là riêng lẻ, nào ngờ đâu tất cả đều sống chung trong trong một vóc một Thể Đại Đồng ấy. Đừng phân biệt mới thấy được Đại Đồng, Đại Thể, mới biết được Đại Đạo là gì? Trời Đất là ai? Cho nên Bực Hiền Nhơn Thánh Trí phải tìm hiểu cội nguồn không chấp nê mới khỏi lầm lạc. Phải có Đức Từ Bi, thương yêu mọi người như chính bản thân mình, vì là đồng chung một cuộc sống, cùng chung một bản thể, cùng chung một gốc sinh ra, cung chung Cha – Mẹ Đại Từ. Biết được cội nguồn thì thấy tất cả chúng sanh đều là huynh đệ.
Dùng Quang Niên mà định khoảng cách của hiện tượng trong Vũ Trụ này thì cũng là phỏng định trừu tượng chớ không phải là chính xác. Tuy nhiên bất cứ một hiện tượng nào đã được cấu tạo thành tựu đều có những chu kỳ, những sinh hoạt, những khoảng cách đều có những giới hạn, cũng như các Ngôi Tinh Đẩu trong Vũ Trụ là hữu lượng số nhưng sức người chưa tri nổi những khoảng cách ấy. Cũng như định vận tốc ánh sáng là 300,000 km/s cũng chẳng đúng.
Bạch Hạc Đồng Tử (Ánh Sáng Mặt Trời) chớp cánh một cái là 360.000 km/s, như vậy thì kiến thức Khoa Học chưa phải chính xác. Muốn tìm hiểu khoảng cách giữa các vì Tinh Tú trong Vũ Trụ, các con hãy tìm hiểu trong nhơn thể, những khoảng cách của các con trong Tạng Phủ rồi tìm hiểu Vũ Trụ, các con sẽ thấy.
Con đường Tây Du dài 10 muôn 8000 dặm (108,000 dặm) lắm nỗi cam go, núi sông cản lối. Những con sông trong Dẫn Truyện Tây Du như: Mẫu Tử Hà – Lưu Sa Hà – Thông Thiên Hà – Suối Ưng Sầu – Bến Lăng Vân Độ…, đó là những đường Kinh Mạch cặp theo đường Chơn Dương Chánh Đạo, là Đường Xương Sống trong con người.
Nay Thầy chỉ rõ cho các con chỗ Truông Thất Tuyệt 700 dặm bị uế khí ô trược của Hồng Đào là bít lối, phải nhờ sức của Ngộ Năng khai thông mở lối, Thầy trò mới bình yên qua khỏi.
Ấy là chỗ Cốc Đạo, bởi vì Truông Thất Tuyệt 700 dặm từ Cốc Đạo đến Dương Quang nó là một đường gọi là Cốc, bị bít lối bởi Hồng Đào Trược Khí. Nơi đây có một con Rắn lớn gọi là Mãng Xà Tinh. Phải diệt trừ nó bởi nó là Tinh. Hồng Đào của phàm trần đâu phải vật quý. Bởi Hồng Đào rơi rụng mà sinh ra Trược Khí, một đoạn của Tình Yêu dục vọng bởi Tinh Mãng Xà gây ra. Hồng Đào là Phàm Tinh cũng như Mãng Xà là Tà Tinh, một thứ ô trược của vọng niệm sanh ra, nó chẳng phải như Tiên Đào ở Cung Diêu Trì bởi vì Tiên Đào là Chính Khí mà Hồng Đào là Tà Khí.
Chữ Thất Tuyệt – Tuyệt là ngăn trở khó khăn, bít lối cũng gọi là Tuyệt Lộ, là con đường nguy hiểm khó qua. Vì nó là đường hang từ Cốc Đạo đến Dương Quang bị Tà Khí làm cho bế tắc gọi là Thất Tuyệt. Sau khi diệt được Tà Tinh Mãng Xà thì Bát Giới dùng sức của mình mà khai Truông Thất Tuyệt, bốn Thầy trò mới qua được bình an.
Vậy trong nội thể con người, khi một Hơi Thở xuống tới Đơn Điền, Khí Hải chuyển qua Vĩ Lư là vòng sau Đốc Mạch tức là Đường Xương Sống Chơn Dương Chánh Đạo. Truông Thất Tuyệt là phần chót của đường Chơn Dương ấy, đầu Truông là Cốc Đạo, cuối Truông Dương Quang, phía dưới Mạng Môn, Vĩ Lư, hai bên là Tọa Cốt.
Hành Giả phải chú ý đoạn đường này. Cần phải Định Cái Tâm, Chủ Thần Lực vận Ngươn Khí để khai thông, đây là chỗ trở ngại lớn mà ai cũng có, ai cũng phải qua. Tuy nhiên, việc chi cũng có Thầy, ở những chỗ trở gay nguy hiểm mà sức con không kham nỗi, các con chưa tu nỗi thì có Thầy, có Phật, có Tam Thanh phù trợ. Tất cả mọi khó khăn đều vượt qua nếu Hành Giả Bền Tâm Vững Chí, quyết một lòng đi đến Tây Phương.
Cuộc Tả Kinh đến nay đã gần viên mãn.Trước sau Thầy chỉ dạy về cái Tâm.
Tất cả mọi sự việc từ đầu tới cuối trong Tây Du cũng không nói ngoài Tâm, mà Tâm tượng trưng cho Tôn Ngộ Không Hành Giả. Vậy hôm nay Thầy chỉ rõ căn nguyên của Ngộ Không.
Hoa Quả Sơn, Thủy Liêm Động là xuất sứ của Minh Linh Thạch Hầu, là chỗ sanh ra Hành Giả Ngộ Không. Còn Tự Tánh Linh Quang của Thạch Hầu được tạo bởi Khí Âm – Dương Trời Đất.
Truyện Tây Du bị các học giả về sau sửa đổi nhiều khoản, thành ra có chỗ sái với cái nguyên bản của Trường Xuân Chơn Nhơn. Chỗ này Thầy nhắc lại cho đúng theo Dẫn Truyện thuở trước.
Hồi Thượng Ngươn Nhứt Kỳ Phổ Độ, Nhiên Đăng Cổ Phật mở Long Hoa Thanh Dương Đại Hội. Lúc ấy Chư Tiên Phật Hội Đồng Công Hỷ tại Cung Diêu Trì, có Lão Tổ Thái Thượng, các Vị Cổ Tiên liên quan Đại Hội lúc ấy có Thánh Mẫu Nữ Oa chung dự.
Lão Quân Thái Thượng mới dụng một phép khoán tại Cẩm Đôn của Thánh Mẫu. Nữ Oa Thánh Mẫu bị phép ấy mà có Thánh Thai. Đây là một sự vui đùa của Lão Tổ, Thánh Mẫu bất bình đòi kiện tới Thượng Đế xử phân, thì Lão Quân đề nghị Thánh Mẫu đừng tâu lên Thượng Đế vì đó là một việc vui đùa, để Ngài giải phép cho. Thánh Mẫu thuận ý, Thái Thượng mới dặn Thánh Mẫu giáng hạ xuống Thủy Liêm Động đến chỗ Thạch Noãn mà ngồi lên thì Thánh Thể liền nhập vào Thạch Noãn. Được giải pháp xong Thánh Mẫu
trở lại Thiên Cung thì hòn đá ấy đã thọ Linh Thai,
đồng thời Hấp Hô Linh Điển của Trời – Đất, khí Âm – Dương Nhựt Nguyệt mà sinh thành.
Thánh Thể nhập vào Thạch Noãn là Linh Khí của Trời, còn khi Mỹ Hầu Vương sinh ra giống hình Khỉ do bởi lúc Thánh Mẫu ngồi trên Thạch Noãn thì gần nơi đó có một Thần Hầu nhìn thấy. Khi Thánh Mẫu biến mất mà trở lại Thiên Cung, Thần Hầu ấy cũng ngồi lên Thạch Noãn, rồi Tinh Thể của Thần Hầu lại nhập vào Trứng Đá ấy nữa. Vì lẽ ấy khi Trứng Đá nổ một tiếng sinh ra Khỉ Đá giống hình thể của Thần Hầu. Lão Âm là Ngươn Khí hiệp với Lão Dương là Ngươn Thần, Âm Dương Nhị Khí sản Linh Quang. Linh Quang ấy giáng trần nhập thế được là người là các con đó vậy.
Vậy thì Thượng Đế Đại Từ Phụ sanh thành các con “ Nhứt Bổn Đại Linh Quang Sinh Ra Vạn Linh Phật Tử, Nhờ Hiệp Cùng Mẫu Khí Hư Vô Diêu Trì Kim Mẫu Mà Sinh Thành Chủng Tử Linh Quang”. Tất cả Linh Quang đều phải nhập thế hồng trần, mượn thai phàm là vật thể để mà sản Đạo.
Hoa Quả Sơn, Thủy Liêm Động là chỗ sanh ra con người, tạo nên xác phàm các con đó!!! Nó là xuất xứ của Nhơn Loại. Hoa với Quả là Bông với Trái cũng tượng trưng cho Âm với Dương, là hai bên phía núi, là Noãn Châu của con người. Hoa Quả Sơn Đông Lý Tây Đào, trăm hoa đua nở một cảnh thiên nhiên, chỗ này cũng gọi là Sơn Hà Xã Tắc Đồ là Pháp Bửu của Nữ Oa Thánh Mẫu. Hiểu Pháp Ý thì chẳng có chi xúc phạm, Giải Chơn Kinh là diễn đạt cái Lý của Đất – Trời. Cội nguồn của Đạo, tất cả đều nằm trong Lẽ Đạo. Vạn vật đều bởi Đạo Sanh, Trời Đất, Nhựt Nguyêt, Tinh Tú đều do nơi Đạo sinh thành.
Giải thêm về sự tiến hóa ở các đẳng chúng sanh bực thấp. Thấp nhứt là từ Kim Thạch, tiến lên Thảo Mộc, rồi sang Thú Cầm. Sự tiến hóa ấy là tuần tự nhi tiến theo Lẽ Đạo Tự Nhiên, chứ chẳng tu học. Nhưng thuở xưa Đức Hồng Quân Lão Tổ còn ban ơn để độ chúng sanh thì có truyền cho Đức Thông Thiên mở cơ Triệt Giáo để dạy cầm thú. Sự truyền Đạo ấy cũng rất là khó. Bởi vì muốn độ một vật phải dụng thần thông điểm hóa hiệp điển cùng vật ấy để mà Cảm Ứng Tâm Linh mới dạy được Đạo. Bởi vì muôn loài vạn vật, loài nào cũng có sự sống, cũng có Tánh – Mạng, cũng do Âm – Dương mà sanh thành. Cái Đạo ở bực ấy cũng chẳng ngoài cái Lý Âm – Dương, muốn điểm hóa cho một sinh vật hiểu Đạo cũng do chỗ Âm Dương mà dạy Đạo. Cũng tùng chỗ Hô Hấp của sinh vật mà làm cho Âm – Dương hiệp hòa mới thành Đạo được.
Bởi vậy trước kia những linh vật được điểm hóa mà thành Đạo cũng đều Kết Châu Đắc Ngọc. Hòn Đá mà được Điểm Đạo cũng thành Ngọc, phi cầm tẩu thú được Điểm Đạo cũng Kết Minh Châu, cũng hườn Nhị Xác Thân đặng, cũng đắc trường sanh bất tử. Nhưng đây là Bực Yêu Tiên, đến cuộc Phong Thần tuyển chọn để định vị, Chư Linh mới dựng Bảng Phong Thần thì bên Xiển Giáo được thành Chánh Quả, còn Triệt Giáo tức là các Yêu Tiên Đắc Đạo vì chưa đủ Đức để được Thành Người nên không thành Tiên đặng, tất cả đều được Phong Thần. Về sau Triệt Giáo bế môn, Đức Thông Thiên trở về hầu Lão Tổ thì cái Đạo ấy không truyền lưu nữa. Bởi vì Đức Hồng Quân muốn các đẳng chúng sanh được tuần tự nhi tiến, phải trải qua nhiều kiếp tiến hóa để lập công học hỏi nơi trần. Đủ Đức làm người mới đủ điều kiện học Đạo thành Đạo, thành Tiên tác Phật.
Trong sự tu hành, ngoài việc công phu ra, còn phải tài bồi Âm Chất, tạo công lập quả độ đời. Âm chất ấy hộ độ cho các con vượt qua những ma nạn khảo đảo mà Thành Đạo dễ dàng hơn. Nhược bằng chỗ công phu có thiếu chăng nữa thì cũng được hưởng Hồng Ân Từ Phụ, có nghĩa là vừa tu công vừa tạo quả, vừa Tu Tánh vừa Luyện Mạng, Vô – Hữu song hành. Chớ chuyên thủ công phu cũng vị tất đã đắc. Công phu đầy đủ mà thiếu âm công cũng khó thành. Có câu “ Nhược bất tích Âm Công, bất chưởng Âm Chất, động khởi quần ma tác chướng duyên”. Trong sự hành công tu luyện, mỗi giờ công phu các con phải chuyên nhứt, không chểnh mảng lơ là, công phu thiếu sót, phải nghiêm chỉnh trong giờ công phu, phải luyện cho được Hằng Tâm để Cảm Ứng Thiêng Liêng Chi Tánh. Bởi vì trong khi các con công phu có Long Thần gìn giữ, có Tứ Trị Công Tào xét xem niên ngoặt nhựt người tu hành thế nào, hành vi ra sao, mỗi mỗi đều xét xem nghiêm nhặt. Lại có Thần Lục Đinh Lục Giáp trợ chuyển Pháp Luân. Lục Đinh Lục Giáp là 12 vị Thần Kỳ Hộ Pháp trợ chuyển Pháp Luân một vòng Châu Thiên Vận. Lục Đinh là 6 vị Thần, Lục Giáp là 6 Khí. Lục Thần với Lục Khí tiếp trợ với Thần – Khí các con mà vận chuyển Pháp Luân đó.
Lục Giáp là: Giáp Tý – Giáp Dần – Giáp Thìn – Giáp Ngọ – Giáp Thân – Giáp Tuất.
Lục Đinh là: Đinh Sửu – Đinh Mẹo – Đinh Tỵ – Đinh Mùi – Đinh Dậu – Đinh Hợi.
Trong khi con chuyển Pháp Luân thì Thần Lục Đinh , Lục Giáp vây quanh một vòng tròn để Hộ Pháp các con nghiêm nhặt. Trong cơ cuộc tu hành của các con Tu Pháp Luyện Đạo, có các Thần Minh cộng sự phò trì thật là nghiêm nhặt chớ chẳng phải tầm thường, Thầy dạy các con hiểu cho tường chớ nên khinh xuất. Phải tình thật, không dối trá, không hý ngôn, phải lập hạnh nghiêm trang, giữ Hằng Tâm chuyên chú, người Đạo không nói chơi vì “ Quân tử bất hý ngôn”, không nói dối vì quân tử phải tình thiệt. Tu mà không có Hạnh cũng như thuyền không lái. Thôi! Đàn nay Thầy dạy cũng đã đủ…


Con nay gặp Bát Nhã Đò
Mong con cố gắng ráng lo cho thành
Long Hoa Bảng Ngọc đề danh
Các con phải ráng công thành đó nghe!.
Thăng!

Trở lại Mục Lục