TÂY DU CHƠN GIẢI

Đàn Thanh Tuất Thời 29.01.AL.86.

VẠN THÙ QUY NHỨT BỔN

Bạch Quang Đồng Tử – Tiểu Thánh đến trước báo Đàn. Có Chưởng Giáo lâm cơ. Chư hiền thành tâm tiếp Ân Sư ngự điển. Ta xuất ngoại ứng hầu.Thăng.

Tiếp Điển.

HÀ THANH CHƯỞNG GIÁO

Thầy mừng các con môn đồ đệ tử – Các con bình thân nghe Thầy khải giáo.

BÀI

  Nam Bang phước địa Đạo Trời khai

Bỉ cực thới lai cũng đến ngày

Thiện Sĩ - Hiền Lương mau thức tỉnh

Tu hành độ thế buổi tương lai

Thương cho sanh chúng còn điêu đứng

Ta những ước mong tiếp đến ngày

  Ngày ấy là ngày dân có chủ

Địa Hình Nam Việt xuất Thiên Tài 

HỰU

Thiên Tài xuất hiện cứu đời nguy

Bất chiến nhiên thành có mấy khi

Các trẻ tu hành tua vững chí

Mây Rồng gặp hội để ra thi.

Từ đây đến đó chẳng còn xa

Các trẻ từ nay phải hiệp hòa

Hiệp mặt cùng nhau lo Đạo Đức

Chung tay xây dựng Đạo Nam nhà.

Các con có biết ngày Long Hoa Hội sẽ thi những gì chăng? Chớ tưởng rằng thi là làm bài vở nộp trình Giám Khảo, cũng chẳng phải lý luận thấp cao. Vì Đạo quý ở chổ Chơn Thật.

Đạo đức đủ đầy – Công viên quả mãn, đây là một cuộc thi tài, thi Đạo đức. Ai hội đủ công phu, ai công đầy đức cả ai khổ hạnh tập rèn trong suốt đoạn đường tu Công Phu – Công Quả – Công Trình ấy, Long Thần nhựt nhựt chép ghi đầy đủ, kịp đến Long Hoa trình lên Chủ Khảo để xét công định quả.

Ai Đạo đức cao thâm, công hạnh đủ đầy sẽ được hưởng quả lành vị tốt, còn ai thiếu thì phải đọa rớt rơi. Ví như Đường Tăng khởi cuộc thỉnh kinh, từ lúc ra đi cho đến ngày trở lại trải qua ngàn ma muôn nạn, thiên lao vạn khổ, mỗi mỗi Long Thần đều ghi chép để định công quả thế nào thì chuyện tu hành các con cũng vậy.

 Thầy giải minh Chơn Kinh là để khai Tâm mở Trí cho môn đồ hiểu rỏ Lý Chơn, hiểu để mà hành chứ chẳng phải để mà nói.

Có câu “Nhứt Nhơn Đắc Đạo Cửu Huyền Thăng”. Con nào Đắc Đạo thì Nội Tổ Chín Đời được hưởng lây ân hụê, là cũng được siêu thăng thoát vòng tội lỗi. Vì kể từ đời cha mẹ của người tu Đắc Đạo trở về trước chín đời đều được hưởng hồng ân của một con Đắc Đạo ấy.

Đó là hồng ân Thiên Phụ ban cho trong kỳ Đại Ân Xá. Vậy trong chín lớp cửu huyền đã qua cũng con một, hai lớp ở trong cõi âm, còn những lớp trước thì đã chuyển kiếp đầu thai, có khi đôi ba lần rồi. Những chơn linh ấy nếu hiện làm người tại thế hoặc ơ chổ nào, ở đâu thì Thầy cũng chiếu điển để độ cho. Nếu thấy căn đức đủ đầy thì Thầy sẽ điểm hóa mà độ vào con đường Đạo Đức. Còn những chơn linh gần, hoặc giả phụ mẫu còn tại tiền thì cũng được Thầy trên chiếu điển độ cho hoặc cách này hay cách khác.

Tất cả trong chín lớp Cửu Huyền đều tiếp nhận đặng, không thiếu sót một ai, nhưng cũng tuỳ duyên, tuỳ đức mỗi chơn linh mà được hưởng hồng ân theo phẩm bậc.

Giải về Pháp Ý Truyện Tây Du chổ Quận Phụng Tiên bị hạn ba năm. Có câu “Thiên Địa Tương Hạp Dĩ Giáng Cam Lộ” nghĩa là: “Trời Đất Giao Tình Mưa Móc Rơi Xuống Muôn Loài Nhuần Gội”. Trời chẳng riêng che, đất chẳng riêng chở. “Bất vị tế lễ nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng họa”.

Mưa móc là ơn vũ lộ cho muôn loài, cũng như ánh sáng mặt Trời chiếu soi vạn vật, đâu có phân biệt cho loài nào, cũng không riêng cho kẻ tà người chánh.

Trời Đất là công bình, người mà làm trái ý trời là con mà làm trái ý cha, là Tinh trở nghịch với Thần làm đều trái Đạo, Thần – Tinh chẳng hiệp thì làm sao mưa móc gội nhuần, Âm – Dương không tác động thì làm sao sanh hóa. Do chổ Tinh – Thần bị chia ly, Trời – Người chẳng hiệp nên chẳng sanh Cam Lộ.

Vậy muốn cầu mưa thì phải vận Thần Công, Pháp Luân đúng máy, trước thỉnh Long Vương hỏi ý, sau lên Thiên Đình thỉnh chiếu chỉ, nhứt vãng nhứt lai, pháp luân nhứt động nhứt tịnh, Hô Hấp Điều Hòa, Thần – Tinh tương hiệp thì Trời Đất mưa.

Còn nếu chuyển Pháp Luân sái phép thì Tinh không hóa Khí, Khí chẳng qui Thần, Tinh chẳng hiệp Thần, chẳng sanh Cam Lộ, thân người khô héo gọi là Hạn Ba Năm.

Giải về Pháp Ý Truyện Phong Thần chổ Dương Tiễn, Na Tra bị Dư Hóa dùng dao hóa huyết chém trúng tay, Lục Yểm dùng phi đao giết chết Dư Ngươn.

Dương Tiễn là Kim Thân hiển đắc, Na Tra là Liên Hoa hóa thân, đến trình độ ấy thì các pháp của trần là bất khả xâm phạm. Con Dư Hóa, Dư Ngươn là hai anh em, vậy chổ cốt nhục cũng là một. Nếu hành giả chuyển Pháp Luân chẳng đúng, chẳng đủ thì phải dư Ngươn, Ngươn đây là Ngươn Tinh. Bởi Dư Ngươn nên phải bị tẩu lậu, cũng gọi là Dư Hóa.

Đao hóa huyết phạm nhằm mà phải tổn thương, đây cũng là chổ bí nhiệm, các môn đồ nếu ở tình trạng này phải khá đề phòng ở Công Phu ấy, đừng để Dư Ngươn hóa huyết Tinh tẩu lậu, tổn hại Kim Thân tức Dương Tiễn, Liên Hoa Hoá Thân tức Na Tra.Dù đắc

Kim Thân cũng bị tổn thương, đó là phạm nội thương chớ chẳng phải ngoại thương bên ngoài. Cũng bởi phàm Tâm mà bị nội thương.

Vậy muốn trừ Dư Ngươn cho dứt phải có Lục Yểm. Tức là trước phải diệt Lục trần, Lục dục, Lục thức thì Lục căn mới thành Lục Thông. Gươm Phi Đao của Lục Yểm là Gươm Trí Huệ chém Dư Ngươn mới chết. Dư Ngươn bị Gươm ấy thì không biến hóa đặng, không còn tác quái nữa.

Thầy giải chỗ Trận Thập Tuyệt.

Trận Thập Tuyệt là 10 đường tuyệt lộ, cũng là 10 cửa A Tỳ Địa Ngục. Triệt Giáo bày ra trận ấy để làm khốn Thần Tiên. Nhưng Địa Ngục chỉ hành xử kẻ có tội, đâu làm hại được bực Thần Tiên. Muốn phá trận phải lót một mạng người, một người phàm tục thiếu phước đức vào trước để lót trận. Một Tiên vào sau để phá trận nghĩa là thế nào? Bởi vì người ta còn mang nhục thể, xác phàm sanh ra bởi đất phải trả về đất.

            Đạo chỉ quý ở Linh Hồn. Một Kim Thân quý báu hơn cả núi vàng, dẫu có muôn xác phàm tục cũng không đổi đặng.

            Bỏ phần xác để bảo tồn phần Linh Hồn, diệt Phàm Thân để bảo trọng Kim Thân. Nơi thế gian này dầu các con tu hành đắc pháp mà muốn phá ngục môn Thập Tuyệt Trận thì phải bỏ xác phàm.

   Thành Đạo là thoát xác phi thăng, nên Kim Thân là bực Thiên Tiên thì không hề bị khốn. Một phàm ấy bị diệt, một Tiên ấy bảo tồn phá trận là lý như vậy, là ở chổ con phải bỏ xác phàm mà nương Kim Thân trở lại cùng Thầy. Xác phàm chẳng quý, tỷ như đống đá sỏi chẳng thể đổi một hạt Kim Cương. Đạo quý ở chổ đó. Kẻ hiểu Đạo thì ôm giữ nó chẳng rời. Thà bỏ tất cả để được Đạo, hơn là ôm cả thế gian mà mất Linh Hồn, thì là khốn đốn !!!

Thầy giải chỗ Động Vô Để, con Yêu Tinh bắt Tam Tạng ép duyên. Hải Không Sơn, Vô Để Động có Kim Tỷ Bạch Mao Thử tức Địa Võng Phu Nhơn. Con Yêu Tinh Chuột này trước bị Na Tra bắt một lần rồi tha cho khỏi chết. Vì cảm đức ấy Yêu Nữ lập Sanh Từ để thờ Lý Thiên Vương với Na Tra Thái Tử, xin làm con nuôi của Lý Thiên Vương.

            Phải hiểu rằng còn mang xác phàm là con Yêu Tinh, Yêu Tinh ấy là do Tâm mình động mà sanh Tinh.

            Một phút không tưởng Phật thì Yêu Tinh xuất hiện. Mất Hằng Tâm thì sanh ma chướng.

            Bởi Tam Tạng không nghe lời Hành giả nên bị ma nạn. Hành Giả xa Tam Tạng trong giây phút thì Yêu Tinh xuất hiện, đang lúc giao tranh lừa thế hóa gió bay đi bắt luôn Tam Tạng.

            Hành Giả không thâu phục được Yêu Tinh vì theo luật Ngũ Hành Tương Khắc, phải dùng hành này để chế ngự hành kia. Kim Tỷ Bạch Mao Thử là thuộc Kim tức là khí Tân Kim tác quái. Chuột làm hang dưới Đất là Thổ sanh Kim. Do lợi thế đó Hành Giả không bắt được Yêu. Sau cùng Hành Giả thấy chổ bàn thờ có hai bài vị của Lý Thiên Vương và Na Tra, tức là biết được cội rể của nó mà chế phục nó.

            Tôn Hành Giả mới đem chứng cớ lên Thiên Đình rồi cùng với Thái Bạch Kim Tinh đến Cung Vân Lâu để đòi Lý Thiên Vương xuống thâu phục Kim Tỷ về.

  Lại còn chỗ Lý Thiên Vương nói: “ Ta có một gái là Bửu Anh mới có 6 tuổi”, Ý Pháp là sao? Bởi Lý Thiên Vương là tướng của nhà Trụ, sau phò Võ Vương diệt Trụ hưng Châu, qua Hội Phong Thần, 4 cha con (Lý Thiên Vương – Kim Tra – Mộc Tra – Na Tra) đều thành Chánh Quả, cùng với Dương Tiễn, Vi Hộ, Lôi Chấn Tử gọi chung là Thất Thánh.

  Bởi chưa học Đạo nên chưa đắc Kim Thân, nhờ Thầy là Nhiên Đăng Cổ Phật điểm hóa truyền trao Pháp Bửu, hạ thủ 6 năm mới thành Đạo. Vì thời gian công phu chỉ có 6 năm nên có Bửu Anh tức Bửu Châu (Anh Nhi – Xá Lợi Tử) là con còn nhỏ. Tuy đã vào hàng Thiên Tiên nhưng công phu chưa đủ, được Thượng Đế sắc phong là Lý Thiên Vương.

 Na Tra, Lý Thiên Vương ở Cung Vân Lâu, là Cung Ly Hỏa, Kim Tỷ Bạch Mao Thử là Tân Kim sanh Bát Quái. Na Tra bắt Yêu là Hỏa khắc Kim, đó là theo phép Ngũ Hành Tương Khắc. Trong chỗ Luyện Đan, Ngũ Hành chế phục lẫn nhau là vậy.

  Muốn có Hằng Tâm, Hành Giả Ngộ Không, không được xa rời Tam Tạng. Đạo phải bất ly thân, Tâm chẳng đặng lìa thân. Tâm Thường Trụ, an nhiên tự tại, không vọng niệm tạp tưởng, tức là có Chủ Tâm. Thân có Tâm làm chủ, như nhà có chủ thì bất cứ việc chi dù là Núi Thái Sơn đổ xuống trước mặt cũng không làm ta kinh hãi, giật mình. Dầu cho ma nạn tai tinh, đối cảnh trần gian đa sự mà ta có Chủ Tâm thì vẫn an nhiên vô sự.

            Vậy con phải ráng tập cho được, ráng đạt cho kỳ được Hằng Tâm.

      Phật Tâm Chủ Định rồi thì ngàn ma muôn nạn vạn sự giai không. Chủ được Tâm thì trong ngoài thảy đều An Tịnh, chẳng sự chi làm cho hốt hoảng lo sợ, cứ vững một đường Tây Phương thẳng tiến. Trên đường tu học lúc nào cũng phải đối đầu với nghịch cảnh, phải chiến đấu với Yêu Tinh, Yêu Tinh đây xuất phát tự lòng mình, là Yêu Tinh của chính mình. Phải thâu phục được nó, phải chiến thắng nó. Vậy cần phải Vững Chánh Tâm để thắng phục quần Yêu. Làm cho Tinh ấy Quy Thần, hiệp cùng Thần mà Đắc Đạo. Nếu không thâu phục được Yêu Tinh ấy, các con phải làm nô lệ cho Chúa Quỷ tức là Dục Vọng của con người.

            Phải Chủ Định cái Tâm mình, phải giữ phải luyện cho được Hằng Tâm, thì chổ công phu mới có kết quả. Nhược bằng chưa biết cái Tâm là gì thì công phu tịnh luyện vô ích.

Bởi Thần lực Ngộ Không là chủ động mọi việc, thiếu Thần lực thì không thể nào đi đến Tây Phương được. Đường Tây Phương dù khó khăn nguy hiểm thế nào, có lòng thành cũng sẽ tới được Tây Phương bái Phật.

Đoạn đường ấy tuỳ nơi Hành Giả các con nhưng cũng tuỳ nơi công đức của mỗi đứa.

Tam Tạng trải qua 13 năm mới tới Tây Phương. Còn Thầy (Ngài Huệ Pháp Thiên Tôn – Bùi Hà Thanh) mất 40 năm mới đến được Lôi Âm bái Phật.Còn phần các con, hoặc lâu hoặc mau hơn, năm ,

mười, một năm hoặc hai mươi năm cũng không chừng, đó là do Hành Giả mỗi con vậy. Long Thần, Hộ Pháp, Yết Đế, Già Lam sẽ biên chép rõ ràng công quả của các con.

Cố gắng công phu!!! Vì mỗi giờ công phu chính là Tam Tạng đang trên đường Tây Phương tiến bước.

            Quý là ở chỗ công phu, con đường quan san diệu viễn, qua mỗi giờ mỗi ngày “Nhựt Thu Nguyệt Liễm” Phật Như Lai tính công quả của Đường Tăng ở chỗ đó.

  Còn Ngộ Không Hành Giả tức là cái Tâm của các con. Cái Tâm ấy đầy đủ thần thông, một ngày có thể đến Tây Phương năm, bảy lượt. Khi lòng vắng lặng tịnh an thì Phật Vương tại Tâm, Lôi Âm ở ngay đó.

Nhưng kiến Phật, thấy Phật vẫn chưa được thành Phật, vì phải có công phu của Đường Tăng, tức là chỗ công phu của các con, chỗ này phải có thời gian mới có kết quả.

Ngâm

Các con phải ráng từ nay

Công phu tu luyện chờ ngày ứng thi

Nay gần đến buổi khoa kỳ

Các con cố gắng trường thi đã gần

Kịp ngày Minh Đức Tân Dân

Là ngày các trẻ nhiệm phần phải lo

Nay còn hiệp mặt Thầy trò

Thầy lo dạy trẻ đây đó mọi điều

Thầy vì đệ tử mến yêu

Nên chi Thầy mới đủ điều dạy con

Các con cố gắng vuông tròn

Ngày sau hiệp mặt bồng non vui vầy.

  Thăng

Trở lại Mục Lục