HÒA ÂM-DƯƠNG VÀ TỨ-TỔ QUI-GIA

P.N : Bạch, bây giờ muốn huờn lại Bổn-Nguyên thì phải “Tứ-Tổ Qui-Gia”.
Đ.M : Bệnh, Tử Bệnh là gì? Bởi do âm-dương không điều hòa.
P.N : Bạch, Âm-dương là nước lửa, là Khảm-Ly nên người tu muốn phục lại Chơn-Dương thì phải biết diệu-dụng “Chiết Khảm Điền Ly”.
Đ.M : Bây giờ muốn vậy, thì phải “Tứ-Tổ Qui-Gia”, Khảm-Ly hòa nhau để phục lại Chơn-Thần, do hiệp mới đặng bình an. Nếu không biết hòa thì nó sinh ra cái bệnh! Tứ đại nó hòa trong Tứ-Khổ đó! Là sinh, lão, bệnh, tử, sinh ra rồi bệnh, bệnh rồi già, già rồi chết, có vui sướng gì đâu phải không Đệ?
P.N : Bạch, bây giờ mình mượn cái Tứ-Khổ này mà làm cái “Tứ-Tổ”.
Đ.M : Đó mới gọi là “Tứ-Diệu-Đế”quay về “Nguồn Đạo Chơn-Không”, phải không đệ? Thân này là giả có gì thiệt đâu! Biết bao nhiêu con vi-trùng ẩn núp trong ngũ tạng và các lỗ chân lông nó hoành-hành sanh ra đủ thứ bệnh-tật. Thịt máu thì tanh-hôi uế-trược,
xác thúi có gì đâu mà bền vững, trường cửu, nó là vô-thường không quyết-định thời-gian, mà mình mê chi mãi trong cái cảnh trần-gian giả tạm này hả Đệ?

Thân Tứ-Đại do tinh hiệp kết,
Một khi sinh phải chết người ơi!
Lăn trong cái biển chợ đời,
Biết bao đau-khổ bởi nơi trược trần!
Do tứ khổ xác thân nhiễm lấy,
Sanh ra rồi đã thấy khổ-đau,
Hồn mê cứ mãi lộn-nhào,
Mất căn linh-tánh làm sao bây giờ?
Rồi bệnh hành dật dờ hồn dại,
Bởi vi-trùng nó mãi bủa vây,
Gây bao đau-khổ thân này,
Rên la than khóc ưu-hoài mà thôi!
Khi đã già nghiệp nhồi lú lẫn,
Mắt mờ lòa miệng chẳng nói nhanh,
Tay run chân mỏi bần-thần,
Là do thọ khổ xác thân di-truyền!
Nay Lão giảng nhơn-duyên sanh diệt,
Chết đi rồi nào biết dại khôn,
Người ơi hãy kíp tỉnh hồn!
Tầm phương siêu-thoát chí-chơn trọn lành!

Đã hiểu rõ trong cảnh Tứ-Khổ thế -gian này là giả và xác thân này nào có thiệt chi đâu! Vì thế nên Lão
mới coi cái ngôi vua nó cũng đâu có thiệt, phải không đệ? Mặc dầu lão là Thái-Tử, mà Thái-Tử nó có đúng thật là mình hay không? Danh vị Thái Tử nó có dẫn mình giải thoát cái vòng tứ khổ hay không? Cái ngai vua có mua lấy sự an vui vĩnh cửu hay không? Hỏi cũng là để trả lời, phải không Đệ? Lão tự hỏi; Lão cũng phải tự trả lời, chịu không hay là đệ muốn nói cái gì khác?
P.N : Bạch Đại-huynh giảng theo chương trình Tứ-Khổ!
Đ.M : Một khi sống ở thế-gian phải chịu biết bao nhiêu sự ràng-buộc, ràng buộc từ trong xã hội, ràng-buộc từ trong nhân-quần; ràng buộc trong gia-đình và cả xác thân!
P.N : Bạch, nếu mình mê muội thì cả cái tâm mình luôn!
Đ.M : Đúng! Bị ràng buộc đủ thứ… Bây giờ làm sao cởi trói cái ràng buộc?
Hôm nay “Cứu-Cánh Niết-Bàn”,
“Hư-Vô Chi-Khí” linh thoàn Thiên-Nhiên.
Trở về “Tổ-Khiếu” máy huyền;
“Huỳnh-Đình” tự-tại thân yên thanh-bườn.
Vui mùi Đạo-Pháp diệu hương.
Tỏ nguồn Chơn-lý “Phục-Huờn Bổn-Nguyên”.
“Ma-Ha” rửa sạch não-phiền,
Thong-dong vô ngại Phật-duyên rạng-ngần.
Bụi trần đâu dính vào tâm,
“Không Sanh, Chẳng Diệt” dứt mầm khổ-đau!
Đúng không đệ? Vì thế mới có Bản-Thể Hư-Vô để trở về cái Bổn-Nguyên Tánh.
Sao gọi là “Tứ-Tổ Qui-Gia”?
P.N : Bạch, “Luyện Tinh Hóa Khí Hiệp Thần Chế-Hồn Luyện-Phách” rồi qui về “Huỳnh-Đình”. Người tu phải luyện chỗ sanh là Tinh. Tam-Tâm cũng ví như tham, sân, si, mà tham, sân, si nó trở về Tinh, Khí, Thần mới hóa ra Tam-Bửu. Tự Qui-Y Tăng, Tự Qui-Y Pháp, Tự Qui Y Thần.
Đ.M : Trong đó mà sanh ra phải không?
P.N : Bạch, nên luyện pháp vận chuyển gồm Hạ-Điền lên Thường-Điền và đem vào Trung-Điền, phải không Đại-huynh?
Đ.M : Giảng vòng ngoài rồi từ từ đi sâu vào vòng trong. Lão đã nói: Lão sẽ dẫn đệ đi sâu vào Sáu Động mà tại sao gọi là Sáu Động Thiếu-Thất?
P.N : Bạch, từ sáu căn trở về sáu cái động lục thông và Thất Bảo.
Đ.M : Thiếu-thất là bảy tình thấy chưa? Lục căn, thất tình (mừng, giận, buồn, vui, thương, ghét, muốn). Bây giờ mở cửa động “Tứ-Tổ Qui-Gia”.
P.N : Bạch, vậy từ tứ đại giả hợp, nay mình giác ngộ rồi, thì phải diệu-dụng đến “Tứ-Tổ Qui-Gia” đó.
Đ.M : “Tứ-Tổ Qui-Gia”, còn tứ-đại (đất, nước, gió, lửa) phải biết cách Tinh-luyện mà hòa hợp cùng “Khảm-Ly Ký-Tế, Hồn-Phách Tương Giao”, Hống 8 (tám) lượng Diên nửa cân, thấy chưa Đệ? Bây giờ hãy đi vào, Lão mở cửa thất tình: Mừng, giận, buồn, vui, thương ghét, muốn và oán hờn đầy đủ hết bắt đầu :

Thân tứ-đại của ta là giả,
Lọt biển trần gieo họa tai-ương,
Biết bao đau-khổ đoạn-trường,
Buồn vui thương ghét vô-thường lệ rơi!
Lúc giận hờn sanh lời sân hận,
Ức khí tà ở tận đáy lòng,
Làm sao huờn lại “Chơn-Không”?
Âm-dương hòa kết nối giòng “Qui-Gia”.
“Qui Tứ-Tổ” hà-sa định số,
“Khảm với Ly điều-độ thân này,
“Hiệp giao Hồn-Phách Đông-Tây,
“Ví như chồng-vợ sum-vầy Huỳnh-Môn.
“Đạo tự ngộ Càn-Khôn mới mở,
“Diệt thói phàm ở chỗ tâm viên
Tánh sanh ý mã chẳng hiền,
Nó thường dong-ruỗi não-phiền khổ-thôi!
Quay về Đạo, Lão ngồi kiên-cố,
Trong chín năm đã ngộ Thiên-Thư,
Ấy là hiệp “Bổn Chơn-Như”,
Tổ Huỳnh, Lư-Đảnh hiệp từ Đông-Tây.

Lão nói Hồn-Phách. Hồn ví như chồng, là Chơn-Dương mà Phách ví như vợ là Chơn-Âm. Còn người đời có vợ chồng; vợ chồng do cái trược tinh sanh ra cấu, nên mới sanh ra trược trần; sanh ra cái xác thân trược này. Hễ luyện Đạo thì Hồn Thuần Dương thật, còn Phách Thuần Chơn Âm thật. Chớ như cái xác thân giả này là trược dương, trược âm hậu-thiên, đúng không Đệ?
P.N : Bạch, khi vợ chồng gặp nhau kết duyên phải nhờ bà mai, bây giờ mình luyện cho Hồn-Phách gặp nhau thì cũng phải nhờ Bà mai là Chơn Ý và diệu-dụng chơn-ý để hòa dẫn Thần Khí tương phò mà Qui-Trung.
Đ.M : Còn “Tứ-Tổ Qui-Gia”, Khảm-Ly Ký-Tế, một bầu chế khắc;
Hồn Đông lại gặp vợ Tây,
Khảm-Ly Ký-Tế chuyển xoay Đạo tròn.
Hiệp máy tạo Càn-Khôn tịnh-tọa,
Phá tâm mê diệt ngã do ta,
“Mai dong tên họ Huỳnh bà,
“Dẫn sao cho đúng luân xa hiệp vòng.
“Chuyển máy tạo khởi trong thân ý,
“Hòa Châu-Thiên “Trực-Chỉ Qui-Nguyên”.
“Diệu mầu “Vô-Cực” huyền huyền,
“Hư-Vô Chi Khí” Tịnh thiền sáng soi.
Phải không Đệ? Bởi vì Lão đi từ Tây qua Đông cũng phải trở về con đường này mà thôi. Do đó, ngộ là ở điểm này, Lão ngộ từ cái gốc lên ngọn mà bây giờ cái ngọn trở về gốc. Vậy phải trở về cái “Bổn-Nguyên Chơn-Tánh” của mình mới hiệp Đạo. Vì ngày xưa, mình còn trong bào thai của mẹ không nhiễm chi cả mà bây giờ mình nhiễm đủ thứ hết!
Bây giờ mình tu rồi, thì có thân xem như không thân, có ý mà coi như không ý mắt có nhìn mà như chẳng nhìn, tai tuy nghe như không nghe, mũi tuy ngửi mà như chẳng ngửi, miệng tuy ăn mà như chẳng ăn, thân tuy động mà như chẳng động. Động tịnh, Âm-dương, chế khắc sanh hòa.

Thân tuy Tịnh-tọa Tham-thiền,
Nhưng mà ý động hòa duyên tẩy trần,
“Kết Khảm-Ly Kim-Thân” sáng tỏ
“Hống hòa Diên” nào có sai đâu.
“Chế-Hồn Luyện-Phách” đi đầu,
“Âm-dương hiệp-kết thai bào bên trong”.
“Xuất Thánh-Thai tròn vòng Tạo-Hóa”,
Ấy Nguơn-Thần nay đã qui bầu,
“Hư-Vô Nhứt-Khí” nhiếp thâu,
Trở về “Tổ Khiếu nhiệm mầu Huỳnh-quang”.
Lấy “Song-mâu” làm đàng dẫn bước,
“Nhờ mai dong đi trước mới nên,
Thân này kiên-cố xây nền,
Đạo sanh đời diệt tuổi tên không còn!

Khi Đạo sanh thì đời phải diệt. Tại sao gọi đời diệt?
P.N :Bạch, “Tâm phàm tử, thì Tâm Đạo sanh!”
Đ.M : Đạo sanh thì không còn có ham muốn chi nữa mà đời đến nỗi đi thuyết giảng cũng không muốn thay! Chỉ gượng cầu nói thế thôi, phải không Đệ? Như vậy mới là phi phi tưởng, phi phi pháp, không không pháp, không không tưởng. Còn hư vô là tạm mượn mà nói chớ chẳng có cái gì hết! Còn trụ vào ý lời sao gọi là “Hư-Vô”? Vậy chớ có thấy “Hư-Vô”bao giờ? Thế thì nãy giờ Lão nói quá nhiều rồi đó!
Thuyết cái gì bây giờ, cứ nói Lão sẽ giảng nữa rồi cuối cùng Lão sẽ tặng riêng cho Đệ một bài thơ Đệ đồng ý không?
P.N : Bạch, Đệ đồng ý!
Đ.M : Bây giờ đệ cần đề tài gì thì cứ hỏi?
P.N : Bạch, tùy nhân duyên Đại-huynh thuyết giảng.
Đ.M : Không! Lão đã nói gượng lý để giảng mà thôi! Đệ cứ tự-nhiên hỏi, còn Lão thì không có gì để nói, mà cũng không có gì để giảng, phải không Đệ?
P.N : Bạch, thôi bây giờ Thỉnh Đại-huynh giảng chương trình Kỳ-Tam đẩy thoàn Bát-Nhã đi!
Đ.M : Cười… Có thoàn không mà đẩy?
P.N : Bạch, quan trọng là ở chỗ đó đó Đại-huynh!
Đ.M : Đệ thấy chưa?
P.N : Bạch, chớ không phải thoàn ở thế-gian đóng một chiếc bè ván để đẩy đi, phải không Đại-huynh?
Đ.M : Tại sao gọi là thoàn Bát-Nhã? Mà đầu tiên Lão đã nói với Đệ là “Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa Tâm-Kinh” bây giờ lại nói đẩy thoàn Bát-Nhã?
P.N : Bạch, bây giờ mới đi đẩy đó!
Đ.M : Đó! Thế thì như cách nào?
P.N : Bạch, hồi nãy đóng thoàn, bây giờ đẩy đi!

Đ.M :
Này Đệ hiền! Nghe thoàn Bát-Nhã,
Mà “Tâm-Kinh” khai cả Chơn-Truyền,
Đây là hữu-phúc trọn duyên,
Lão về gượng nói lý huyền tri ra…
Hiệp Tam-Giáo Cửu-Tòa chứng-chiếu,
Khai “Huyền-Quang Nhứt-Khiếu” mà thôi,
Khắc sanh phải rõ trau-giồi,
Âm-dương mấu-chốt không rời xa nhau.
Đây sáu động bước vào mới thấy,
Hỡi đệ hiền! Tri lấy phương-châm,
Nằm, ngồi, đi, đứng thậm thâm,
Huyền-vi tĩnh-tọa tri tầm “Hư-Vô”.
Lão điểm khuyết “Nam-Mô Chí-Khí”,
“Ngôi Huỳnh-trung trực-chỉ Bổn-nguyên”,
Ấy là “Bát-Nhã Tâm-truyền”,
Từ thoàn vớt khách thiện duyên tri tầm.
P.N :
Đệ Nguyện-cầu huyền-thâm chiếu-diệu,
Hòa trọn lành hoát khiếu linh-quang,
Tòng khuôn “Bát-Nhã Từ-Thoàn”,
Đạo-mầu cứu-khổ trần-gian hữu-hình.
Do có thân chơn tình kết lại,
“Tâm Hư-Không” thư-thái điều hòa,
Hiệp cùng Thiên-điễn Trời Cha,
Hoằng dương Chánh-Pháp độ-tha tỉnh người.
Hàng chí-chơn nào ngơi thực-thể,
Tỉnh ma lòng hầu để tầm tri,
Đó là “Phục Bổn Qui-Y”,
Nhứt trần bất nhiễm mới ly cảnh đời.
“Thoàn Bát-Nha” do nơi xuất-tánh,
Dứt não-phiền lập hạnh an-nhiên,
Thong-dong tự-tại nhiệm-huyền,
Vạn-duyên phủi sạch mới yên định hồn.
Được như vậy bảo-tồn linh-thể,
Hòa Điễn-quang khai huệ viên-minh,
Bởi do trực-chỉ Huỳnh-đình,
Không còn vướng bận hữu-hình trầm-kha!
Đ.M : Đạo huờn chơn-lý ra khẩu-khuyết,
Lão về đây nhiệt quyết “Tâm-Trung”,
Người tu “Đại-Lực Đại-Hùng”,
“Đẩy Thoàn Bát-Nhã” đã dùng phương châm.
“Đạo không lời huyền-thâm diệu-ẩn,
Định Tham-thoàn nhập cảnh “Huyền-Môn”,
Hiệp Thiên xuất tánh độ hồn,
Đâu còn nhiễm tục ấy “Huờn Kim-Thân”.
Này Phục-Nguyên! Ba lần đàn giảng!
Lão dùng thần đánh tản khí âm,
Muội-mê lý chướng mới tầm,
Chớ hàng Chánh-giác huyền-thâm vuông tròn.

Đệ cùng Lão mổ xẻ tiếp, Đệ muốn nói điều gì?
P.N : Bạch, tùy Đại-huynh, bây giờ Đệ không còn gì để mổ xẻ hết.
Đ.M : Đúng! Không còn gì để nói, nói hoài thành ra lý-chướng, hễ gượng nói thì không nói nhiều…
P.N : Đúng! Người trí không cần nói nhiều…
Đ.M : Đúng!
Ngày hôm qua Lão hứa kể với Phục-Nguyên năm giai đoạn đó, lúc Lão nhập thất “Cửu-Niên Diện-Bích” thì không còn gì để nói; phải không Đệ? Bây giờ Lão xin tặng. THI
“Phục đài Tổ-Khí vững tâm yên, “Nguyên bổn Huỳnh-Trung điểm diệu-huyền, “Hoằng hóa nhơn-sanh kỳ mạt-hạ,
“ Pháp mầu bí-khuyết hiệp thiêng-liêng.

BÀI
Này Phục-Nguyên! Thiêng-liêng lời giảng,
Hãy nghe tường tâm sáng tri-nguyên,
Diệu-thông bí-nhiệm chữ “Thiên”,
Không-không nào có nhân duyên lý tình.
Do chữ “ Có” mới nhìn thực-tại,
Nay “Huờn-Không” vô-ngại thâm-vi,
“Phách-Hồn” hòa hiệp “Khảm-Ly”,
“Qui-Gia Tứ-Tổ” chu kỳ tương-giao,
Khai Cửu-Khiếu một màu Phật-tánh,
Xuất chơn-dương nhập đảnh Thiên-không,
“Hỏa-Hầu Tam Muội” Diệu hồng.
Như-Lai Nguyên-bổn nằm trong Huỳnh-Mồ.
Thì ngộ khuyết “Nam-Mô Tự-Tại”
Rồi thong-dong lưu-tải độ đời,
Gượng cầu ra lý nói lời, …
Nào đâu chấp-pháp ở nơi giả trần.
Hãy xuất chơn tùy căn lý độ,
Bởi do đời mê chỗ giả thân,
Thế nên đau-khổ khôn ngần,
Ta dùng Đạo-Pháp xoa phần bi-thương.

Sao nói là đau? Sao nói là khổ? Biết vậy nên phải lấy Đạo đắp vào chỗ đau, đắp vào chỗ khổ thì mới thấy an vui, đúng không? Bây giờ Đệ không cho Lão nói nữa phải không? Lão sẽ nói tiếp mà sao Lão cũng làm biếng nói quá! Đạo gượng mà nói thôi chớ chẳng có gì hết? Lão đã không muốn nói; nhưng mà phải nói bởi vì Lão đã từng trải qua con đường của Lão đi, thật là biết bao cam-go cực khổ, đến nỗi phải bị đánh gãy răng máu chảy, bị bỏ xác cũng vì tình-thương, giáo-hóa nhơn-sanh thế nên Lão phải chấp-nhận chịu bao đau khổ!

BÀI
Ôi! Chợ đời chịu bao cảnh khổ,
Đem Đạo-mầu dìu độ thế-gian,
Người hung tánh ác bạo tàn,
Lão đâu trụ-chấp mà mang vào lòng.
Việc ở đời xem không tất-cả,
Mình cũng không cái ngã cũng không,
Đạo-mầu hiệp lại huyền-đồng,
Đông, Tây, Nam, Bắc cũng trong liên-đài.
Lấy tình-thương ưu hoài độ chúng,
Giáo nhơn sanh diệu dụng tỉnh đời,
Nào đâu Đạo có ra lời,
Vì thương mạt hạ quả nhồi nghiệp lôi.
Thấy trần-gian xem coi như giả,
Thì Lão đây mô-tả mọi điều…
Phục-Nguyên tâm Đạo rán khêu,
Có gì gọi Lão, Lão về đây ngay.
Nhưng mà cấm kêu “Hắc-diện” cười … phải không?
Tại sao gọi Lão biết không? Đây Lão nói “Hắc-diện với Huỳnh-ba” thế này :
BÀI
“Thận thì đen mãi một đường”,
“Nê-huờn sáng tỏa Huỳnh-tương Hư-huyền”.
“Đạo Vi-diệu Thâm-uyên Tịch-tịch”,
“Đạo càng cao người ít hiểu nghe”,
“Đạo đâu sắc tướng loẹt lòe?”
“Đạo đâu hí-luận hoặc mê làm gì?”
“Đạo tự nhiên thực thi Chơn-ly”ù;
“Đạo nhiệm-huyền trực chỉ tri ra…”
“Đạo khai thiên lộ Huỳnh-hà”,
“Tương thông Cửu-khúc tìm ra lý Thầy”.
“Rồi sẽ sáng Như Lai nhứt điểm”,
“Xuất Tánh-linh thể-nghiệm thăng hoa”,
“Hiệp cùng Thượng-đảnh Bửu-Tòa”,
“Niết-Bàn Cứu-cánh Phật-Đà nghe không?

Cười… phải không Đệ? Đã nói Niết-bàn thì chỉ có màu vàng chớ không có màu đen. Sao gọi là “Hắc-diện” đặng.
P.N :Vì biết hành pháp diệu-dụng chuyển “Tứ-Tổ Qui-Gia” (gom về Huỳnh-mồ). Nên Niết-bàn thì màu vàng, là Huỳnh-sắc; Huỳnh-quang đó. Vì thế Phật mới mặc y màu vàng là vậy.
Đ.M : Nhưng mà gọi Lão là “Hắc-Huỳnh” cũng đặng, Lão chỉ lấy chữ Hắc chữ Huỳnh mà giảng thôi phải không?
P.N : Vì Bắc-Khảm sanh thủy nên màu đen, bạch Đại-huynh! Đệ tiếp điểm này, vì chúng-sanh có thân từ đất, nước, gió, lửa. Sanh đầu tiên là sanh thủy, do đó mình tu thì phải lấy thủy mà luyện, luyện từ cái đen.
Đ.M : Đúng!
P.N : Luyện thủy là phải năng Tịnh-luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần rồi Thần qui về “Huỳnh-trung mà Huờn-hư”, song rồi diệt cái-giả ngã phàm ý đi, sẽ phục lại Chơn ý, Chơn ý cư tại Mồ-Thổ là Huỳnh sắc. Huỳnh là màu vàng trở về “Bổn-nguyên Phật-tánh”. Vì Tinh luyện Thanh- lọc từ màu đen trở nên màu vàng, nên mới gọi cái “Tổ-khiếu là Huỳnh-đình”, Huỳnh là màu vàng, Đình là cái Tổ. Vậy Huỳnh-đình là cái nhà “Hư-Vô”. Vì thế Tinh nó ở phương Bắc nó hóa Khí ở phương Đông nó hóa Thần ở phương Nam rồi nó qui về Mồ-Thổ là Trung-ương màu vàng mà đất là Tứ-đại đã hết đó.
Đ.M : Vậy là Đệ đã biết khá lắm! Vì người chết cũng phải trở về đất, mà luyện Đạo đã thành cũng trở về Thổ là Đất thấy chưa?
P.N : Nhưng mà vì nhờ nước vào đất người sinh ra cũng do nước, tu rồi cũng phải do nước mà dẫn vào Thổ gọi là Huỳnh-trung.
Đ.M : Biết rồi còn nói làm chi?
P.N : Bạch Đại-huynh! Mình nói để cho các thiện-duyên nghe để lãnh-hội,
vì Tứ-đại (đất, nước, gió lửa) mà người sanh ra cũng do nước.
Đ.M : Bởi thế, đầu tiên âm-dương kết lại, cũng do nước trước, người tu cũng bắt đầu nơi Khảm mà hóa ra Khí, Khảm
thì do đâu? Do thận, thận từ cái màu sắc đen trở về Huỳnh trung
Mồ-Thổ màu vàng đó. Đây
“Ánh Đạo- vàng” Lão sẽ giảng :

BÀI
Này Phục-Nguyên! Lão đây thuyết giảng,
“Aùnh-Đạo-vàng tỏ rạng Huỳnh-tương.
“Liên-đài Cửu-khúc thanh bường,
“Khảm là do Thận nhiễu-nhương luân hồi!
“Vì sắc đen mình ngồi loạn-động,
“Chuyển làm sao trống-rỗng bầu Tinh!
“Huỳnh cư hóa Khí siêu-hình,
“Trở về Mồ-Thổ Huỳnh-Đình qui-gia”.
“Diện Huỳnh-quang siêu hòa không sắc,
“Tam-muội khai diệt tật chúng sanh,
“Đạo-mầu minh-triết chỉ rành…!
“Huệ khai xán-lạn bạch-thanh hư-huyền.
Bởi thế Phật gọi là “Niết-Bàn”,
Tiên gọi là “Hư-Vô”, phải không?
Cũng đồng nghĩa chỗ bí yếu đó Đệ.
“Lão giáng đàn xiển khai chơn-hiễn,
“Mong Phục-Nguyên ứng-biến Tâm- cơ,
“Đạo huyền vi-diệu Đồ-thơ.
“Cũng trong mấu-chốt huờn-vô độ-đời.
“ Long-Hổ hiệp tại nơi Khảm thủy”,
“Phụng-Qui hòa trực-chỉ đài mây”,
“Chuyển sao bánh pháp tròn xoay”,
“Qui-Gia Tứ-Tổ” tri bài “Tâm-Kinh”.
“Là Tam-Gia do mình khởi động…!”
“Hiệp điễn- quang mở cổng Chơn-Như”,
Đạo Trời có máy “Thiên-Thư”,
Đạo nào có nói lời như Lão già.

Bởi vậy mới nói: “Ngăn sáu động, lấp ba tình” mới sanh ra ba cái hoa, mới gọi là “Tam-Hoa Tựu-Đảnh” là “Ngũ Khí Triều-Nguơn” thấy chưa?
“Ngũ Khí Triều-Nguơn” do đâu mà có?
Sao Phật gọi là ngũ sắc, phải không?
“Ngũ Khí Triều-Nguơn” do đâu mà có? Trong ngũ tạng hòa Ngũ-Hành, phải không? Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận với Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thôi. Bây giờ phải hiệp làm sao để trở thành Ngũ Khí đó? Khí đó, phải Triều-nguơn, Triều là nó lên trên như nước sóng biển nó lên rồi nó xuống, mà nó lên đâu? Lên trên Đảnh Thượng. Xuống đâu? Xuống Đơn-Điền.
P.N : Triều-nguơn là sóng, sóng vỗ nhưng mà lên cái thanh lấy thanh-lọc cái trược cũng có nghĩa là “Biện- trược Lưu-thanh” vậy.
Đ.M : Bởi vì biển đánh vào các cỏ rác rến rồi rút vào nước trong ví như nước mưa, phải không Đệ? Nước biển xanh đen rút thanh lên mà đẩy trược xuống dưới; mới gọi là Diên với Hống, Hống nửa lạng mà Diên lại 8 (tám) cân. Rồi làm sao mình đo được Hống 8 lạng mà Diên nửa cân hả Đệ?
P.N : Là âm-dương điều hòa đó!
Đ.M : Đây Lão nói: Bởi vì con người sanh ra ngũ-tạng đã có sẵn trong này. Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận phải không? Tâm thuộc Hỏa sắc đỏ, phương Nam ứng vào Xích-Đế, Can thuộc Mộc sắc xanh phương Đông ứng vào Thanh-Đế. Tỳ thuộc Thổ Trung-ương sắc vàng ứng vào Huỳnh-Đế, Phế thuộc Kim sắc trắng Phương Tây ứng vào Bạch-Đế. Thận thuộc Thủy sắc đen Phương Bắc ứng vào Hắc Đế. Đó thuộc về Ngũ-Đế. Thế cho nên nói tâm khởi trước mà Thận khởi sau là bởi vì ứng vào “Ngũ-Khí Triều-Nguơn” tức là bổ lửa nước là cái chỗ đó. Ví như mặt trời soi xuống nước, rút tinh hoa lên làm mây rồi hóa mưa nước xuống, phải không Đệ? Nên nói một dọc chữ Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, Tâm mới đứng đầu, Thận là đứng dưới. Mà tu thì phải ngược trở lại đi từ dưới lên trên thấy không? Bắt đầu đi từ cửa động thứ nhứt cửa Thận:

Thận Thủy sắc đen là Hắc-Đế.
“Lấy Ngũ-Hành điều qui chế khắc,
“ Thủy thời Đế-Hắc chưởng Ban,
“Ngày nay tỏa Ánh-Đạo-Vàng,
“Hiệp hòa Tứ-Tổ Tâm Can chuyển vòng.
Đầu tiên là Thận, Thận sanh ra chi đố Đệ?
P.N : Bạch, sanh ra Can, Can là Mộc.
Đ.M : Đó bắt đầu :
“Rồi trưởng dưỡng Mộc Can cho vững,
“Vượng, Tướng, Tù, Hưu cũng đứng theo.
“Vượt qua sông biển hiểm-nghèo,
“Hỏa-Hầu Tâm vị nghịch trèo thượng thăng”.

Rồi Mộc sinh ra Hỏa, Hỏa sinh ra Thổ, thì phải cư vào Huỳnh-Trung, Thổ sinh ra Kim, Kim mới bổ cho Phế, Phế mới có nước trắng tinh-hoa đó trưởng Khí mới gọi là Chế Hồn Luyện-Phách vậy.
P.N : Cái nước trắng tinh-hoa ấy mới sanh trở lại mà hòa với cái đen trở thành màu vàng, ví như chì luyện ra Chơn-ngân đó.
Đ.M : Nãy giờ Lão với Đệ đã nói lộ nhiều cái bí-quyết, khẩu-khuyết, phải không Đệ?

Nhưng gượng nói “Mật-truyền Bí-khuyết”,
Khẩu khẩu tâm ai biết y hành,
“Tịnh thiền hòa hiệp khắc sanh,
“Qui về Mồ-Thổ bạch-thanh do mình.
“Nơi Thận-Thủy trược tinh dục ái,
“Chuyển làm sao kết lại tâm-điền!
“Bảo-nguơn diệu-diệu huyền-huyền.
“Đăng đài Thượng-đảnh nhập liền thánh-thai.
Rồi “Kết-tựu Qui-đài Linh-khí”,
Hòa “Hư-Vô Trực-Chỉ Thiên-Nhiên”,
Đó là “Chơn-pháp Tham-thiền”,
Ai thời biết rõ ngộ liền Bổn-nguyên.

Đó, đúng không? Biết cái Bổn-nguyên rồi thì năng Tịnh-luyện để huờn lại Bổn-nguyên là trở về với Đạo, mà trở về với Đạo thì tâm Đạo sanh, tâm phàm tử, tự-nhiên như vậy đúng không?
P.N : Bạch, Đại-huynh đúng!
Đ.M : Nói nhiều mà hiểu có nhiều không? Điều đó là một lẽ nữa? Nhưng mà người nói là tác giả làm sao nói ít mà hiểu nhiều nó mới hay, cười… Khó chỗ đó, đó Đệ!
P.N : Rồi hiểu mà làm mới là hay nữa đó!
Đ.M : Đúng!
Bây giờ chia thân người ra làm hai phần âm-dương hay là thôi; thôi khỏi nói để Lão đi, hiền Đệ thấy sao?
P.N : Bạch, Đại-huynh, kỉnh xin Đại-huynh giảng tiếp!
Đ.M : Này Đệ! Đạo Trời thì không có thiếu mà cũng không có thừa, cười… Bù chỗ thiếu mà vá chỗ thừa là cái chỗ đó đó, phải không?
P.N : Bạch Đại-huynh! Nên thổi ra bớt vì dương nhiều quá nó phải nóng, hoặc lạnh quá phải thổi âm phù vậy.
Đ.M :

BÀI
Đạo Trời chẳng thiếu hay thừa,
Cho nên tu-luyện sớm trưa tịnh lòng.
“Năng giồi-trau ý trong thanh-khiết,
“Lọc chân lông các huyệt uế tà,
“Trưởng nguồn sinh-lực tinh-ba,
“Huỳnh-trung qui-hiệp Tứ-hòa mới xong.
“Ở cửa Đông Can tòng vi chủ,
“Còn chánh Tây Phế thủ luôn luôn,
“Làm sao đừng có giận buồn…
“Luyện Tinh hóa Khí Phục Thần Chơn-như.
“Rồi Bắc Thủy từ từ trong sáng,
“Thận hòa qui ngũ-tạng khắc sanh,
“Tri nguồn Chơn-lý rõ rành.
“Hà-đồ Bát-quái luyện-phanh diệu-mầu.
“Sanh Ly-hỏa Bửu-Châu thượng đảnh,
“Do Huỳnh-bà nhập cảnh Không-trung,
“Âm-dương hòa kết nhuận-phùng, “
Đốc-Nhâm tương hiệp pháp luân nghịch vòng.
“Trưởng Thánh-Thai ở trong Điền Khảm
“Dùng Tâm-Kinh gượng tạm giảng ra.
“Phàm phu chẳng thấu là ma,
“Đạo siêu tự ngộ tinh-hoa nhiệm-huyền.
“Sao kết-hiệp Khí thanh đài đảnh?
“Bởi trược Tinh nó chẳng chịu yên.
“Thế nên trong lúc ngồi thiền
“Đau lưng nhức mỏi liền liền do đâu?

Đó là do nó còn nước đen (trược tinh, phải không? Nhưng tại sao biển thì có sông có rạch, có ngòi mà nước biển thì mặn sông thì nước ngọt, phải không? Còn nước rạch thì nước có bùn, dơ dáy, hôi hám, thấy không?
P.N : Bạch, luyện từ chì mà hóa ra chơn-ngân vậy.
Đ.M : Đó !

Đây Lão giảng những điều bí-chỉ,
Này Phục-Nguyên! Bát vị thuận đà!
Luyện sao “Tứ-Tổ Qui-Gia”,
“Hống-Diên kết-tựu nhuận-hòa thân tâm”.
“Do thường lạc Lão ngâm kệ pháp,
“Ai thiện-duyên nếu hạp hiểu liền,
“Chí-chơn tỉnh-định Tham-thiền”,
“Hư-Vô Chi-Khí Tiên-Thiên Phục-huờn”,
THI
“Giáng Long chế Phách hiệp Linh-hồn,
“Phục Hổ Qui-y kết đảnh môn,
“Chiết-Khảm Điền-Ly” trừ dục tánh,
“Huỳnh cư tại vị trưởng Nguơn-Thần.
“Nguơn Thần chế định phục tinh-ba,
“Nhập-tẩn tương-sinh khắc hiệp hòa,
“Huyền xuất trừ âm tiêu nghiệp-chướng,
“Biển trầm lắng đục kết Tam-Gia

. Thấy chưa? Lắng biển trầm thì Tam-Gia mới hiệp, chém cái núi tình thì Đạo sẽ thấy (Đảo hải minh sơn). Đó tại sao gọi là núi tình? Một khi nó bốc lên thì cao như núi, … (cười…) một khi nó muốn thì nó hơn sóng biển, phải không? Tình sanh chúng:

BÀI
Thôi Lão thuyết từ đầu chí cuối,
Phục-Nguyên bươn dong-ruỗi đường dài.
“Đạo Huỳnh hãy hoát hoằng-khai,
“Hư-Vô Nhứt-Khí” linh-đài Tiên-Thiên.
“Ra độ đời khẩu truyền diệu-dụng,
“Tùy nhơn-duyên đều đúng căn tu,
“Hiệp qui hòa với Đại-Từ;
“Trở về Thái-Cực, chơn-như Phật-Đài.
Cửa nhiệm-huyền Lão đây đã mở,
Hỡi Đệ-hiền! Hãy trở về ngay.
“Cứu đời phải chịu nạn tai…!”
“Nhưng tâm tự-tại Đạo khai công bồi.
Lão đi thức xác đời tạm bợ,
Bị gãy răng chẳng nhớ điều chi…!
Chỉ mong sanh chúng ngộ thì,
Đạo-mầu bí-quyết quyền-vi hành trì…

Từ rày đừng réo Lão về nữa nghe chưa? Đã réo mấy lần rồi, hễ Lão chịu độ đời thì phải chịu bị đánh và bị giết nữa.
Nói là nói vậy Đệ ơi!

Lão đây kề cận ở nơi hữu-hình!
Do lòng thành, đức-tin chí kỉnh,
Lão tiếp người Thanh-tịnh ứng ngay,
Thuyết đàn cảm-hóa biện-bày,…
Đốn tâm mê-muội hoát đài Chơn-linh!
Lão đốn pháp ai nhìn sẽ thấy,
Đốn tâm mê tỉnh lại mau mau,
Chớ đừng diêu-động lao xao,
Trở về “Nhứt-Khí”một màu Huỳnh-tương.
HỰU
“Huỳnh-tương Ngũ-khí phải Triều-nguơn”,
“Sóng tục yên mau chẳng giận-hờn”;
“Tựu-Đảnh Tam-Hoa” đà chiếu-chỉ,
“Chơn-Không Diệu-Hữu” đáo lai-huờn!
“Lai huờn Phật-tánh trưởng Ma-ha,
“Tịch-đốc huyền-vi bí-ẩn hòa,
“Nhập-tẩn tri cơ thời tỏ ngộ…
“Xuất-huyền tẩy ám rút tinh-hoa!

P.N : “Xuất-Huyền” là xả âm khí uế trược Hậu-Thiên đen tối và những tư-tưởng xấu xa tà vạy mờ ám cho nó ra hết; còn “Nhập-Tẩn” là tiếp “Thanh-Khí Tiên-Thiên” về Huỳnh-Mồ để “Phục Nguơn-Thần” và nuôi “Kim-Thân Huờn Chơn-Dương”, bạch Đại-huynh có phải như vậy không?
Đ.M : Đúng! Đó là bí-quyết đó Đệ, chịu không? Bây giờ làm gì nữa, cười… Lão đã nói hết rồi, nhưng còn…!
P.N : Nói cái chỗ không nói…!
Đ.M : Đó, “Đạo không lời”, có lời thì nói không hết, phải không? Đạo không, Đạo không thiếu, không
thừa, không dư, không đủ, không có, không-không, không hình, không tướng, không nói, nhưng mà nói thì
phải nói hết. Bây giờ Đệ muốn Lão nói chi nữa?
P.N : Bạch, tùy nhơn-duyên Đại-huynh thuyết giáo…!
Đ.M : Mà Đệ cứ muốn Lão tối ngày nói chuyện độ đời, đời có đâu mà độ? Đạo có đâu mà đi độ đời, phải không?
P.N : Bạch, không có gì phải độ…!
Đ.M : Không có hành, không có độ…!
P.N : Bạch, vì hành mà không trụ chỗ độ; làm nhưng không dính chỗ làm!
Đ.M :

Còn suy nghĩ độ đời còn trụ,
Nói làm sao ru ngủ cho người,
Lý kinh thuyết giảng thành lời…
Thế nên chấp tướng ai ơi chẳng hành!
Đạo vi-diệu huyền thanh ẩn một,
Cơ bí-truyền “Thần-Thất” huờn ngôi,
“Chí chơn tinh-tấn năng ngồi”,
“Thuần-dương bổ hỏa tô-bồi Nguyên-linh”.
“Luyện Hồn-Phách, tâm bình định tánh”,
Chí “Hành-Thâm Lập-Đảnh Đài-Thiên”,
“Qui-Trung” hiệp máy diệu-huyền,
Đạo nào lý-chướng nhân duyên giảng hoài?

Trở lại trang chánh