TRỰC CHỈ DIỆU HUYỀN CƠ
Trực Chỉ Diệu Huyền Cơ là mầu nhiệm, như mây theo gió, gió theo Nguyệt, vẫn biết chẳng hai pháp môn, rõ ràng một cây sanh hai bông. Một bông vô cực hiển đạo nhơn, chơn đạo chia ra ngoại đạo ngàn, ba ngàn sáu trăm đàng sắc tướng, chỉ một đạo mầu dạy vô vi.
Thần Khí Tinh gom lên Đảnh, hỏi lại cho rõ ai qui y ? Than ôi ! Chúng sanh mê không tỉnh chỉ vì danh với lợi ; ví biết tu hành là máy nhiệm, ráng tu tinh tấn, ráng làm lành, y phép tu hành cho thấy tánh, lau chùi Gương Huệ sạch bụi trần, soi rõ mặt mày hiện như chơn, minh tâm kiến tánh thoàn thì ngộ, dường rắn lột da chứng vô sanh.
Tu hành trót đặng thành tâm ý, luyện kỹ công phu hỏi chơn nhơn, ba lần xoay trở nên phép nhiệm, đồng bàn Tiên Phật vui nên vui, biết rõ căn nguồn nẻo sanh diệt,
muôn phép gom về một chữ Không. Chữ Không ai thấu lý vô cùng ?
Tại cửa Huyền Tẩn ẩn trong cung. Hỏi lại xứ nào ? Tìm ở lòng.
Muôn phép gom lại một,
Một ấy nơi nào tột.
Tột đặng một lẽ này,
Lẽ này là Vô Cực.
Nay Ta nhắc lại cho ngươi rõ : khi xưa Phật Thế Tôn ở nước Xá Vệ phò lấy cái chơn đạo cho Ca Diếp, Ca Diếp truyền lại cho Ngưu Đầu Hòa Thượng, Hòa Thượng truyền lại cho Giới Luật Thoàn Sư, Giới Luật chỉ cho Mặc Sơn Đại Sư, Mặc Sơn truyền lại cho Ngũ Tổ Thoàn Sư. Ngũ Tổ dạy Huỳnh Mai, Huỳnh Mai giao truyền cho Mã Tổ Thiền Sư. Mã Tổ tìm không đặng người mà truyền thọ, ấy là thất kỳ truyền, phép báu ẩn nơi chùa Huỳnh Mai trót sáu mươi năm.
Trong chùa có một người công quả, thắp hương cúng nước. Vì quá lòng chơn thành nên Ơn Trên cho gặp Bửu Pháp vậy, lưu truyền đến đời nay ơn Phật cho trau thọ Đại sư nhơn duyên này tại thế.
Đây Ta chỉ rõ đầu đuôi, ngươi khá kỉnh tin mà làm theo ! Phép này khó chỉ người chẳng được ân huệ với Ơn Trên thì muôn vàng khó chuộc, ngươi khá y phép tu hành.
Than ôi ! Kẻ tu hành ngày nay chỉ mong về Tiên nên Phật, ý vọng cả ngàn, chẳng khắp lành với người vật mà muốn đắc quả trong một ngày, dường thế thì làm sao mà ngộ đạo ?
Nếu chúng sanh y theo phép Ta mà tu hành nếu chẳng thành Phật nên Tổ, Ta nguyền thay mặt cả chúng sanh mà vào nơi A Tỳ, còn nếu chúng sanh không y theo phép Ta thì Ta biết làm sao đặng ?
Tổ Sư ngâm rằng :
Luyện đặng Kim Đơn dược,
Xây nên Tạo Hóa lò.
Trở mình nên quả vị,
Thương chúng chẳng xét dò !
Phật truyền Linh Sơn phép,
Kinh dạy năm ngàn pho.
Chỉ tột cơ Trời Đất,
Chỉ để riêng một lo.
Ai biết Kim Định Nam ?
Không biết Ta chỉ cho.
Thần Quang bạch : “Xin Thầy dạy bảo cho rành để qui hướng theo Định Nam châm !” Lão Tổ nói : “Kim Định Nam thiệt bằng vàng, hướng Nam sanh hỏa, lửa này nấu chất vàng ròng bồi vóc Kim Thân”. Ngươi khá nghe đây :
THẬP NHỊ THỜI TRUNG ĐỊNH NAM CA
Giờ Tý xem qua Kim Định Nam,
Trong lòng trở phép báu muôn ngàn.
Chớ đem sáu giặc vào xâm phạm !
Ráng gẫm mơ màng thấy bửu quang.
Giờ Sửu xem rằng Kim Định Nam,
Trên dưới soi thông chẳng bế quan.
Trong óc ngăn đường Tào Khê chảy,
Dò lần mở nẻo bước lên thoàn.
Giờ Dần ngẫm nghĩ Định Nam Kim,
Xét cuộc thế trần nổi lại chìm.
Tý Ngọ đành lòng xây máy phép,
Dạ thời khao khát gặp giai nhơn.
Giờ Mẹo xem qua Kim Định Nam,
Trong phòng thanh tịnh dạ lo toan.
Bốn trụ kết vào gom một ý,
Mài lòng chẳng biết nói công trình.
Giờ Thìn xem rõ Định Nam Kim,
Ngàn núi muôn sông chớ khá tìm !
Đạo ở trong mình nên trừ ý,
Trên sương dưới tuyết kết làm băng.
Giờ Tỵ xem qua Kim Định Nam,
Giống gieo lên mộng vóc xanh xanh.
Ổ quạ rưới vào không khí mạch,
Ba bông gom lại kết nên hình.
Giờ Ngọ xem qua Kim Định Nam,
Cao Đài tiếng trống chẳng thanh nhàn.
Chủ nhơn ra mặt đừng xao động !
Tỉnh giấc giựt mình bản dạ kinh.
Giờ Mùi thấu biết Kim Định Nam,
Nào khác bầy chim lạc nẻo tầm.
Trạch Nữ mỗi ngày thường kết bạn,
Ngày nay đi vắng bặt tri âm.
Giờ Thân thấy rõ Định Nam Kim,
Đôi mắt sáng lòa chẳng thấy đường.
Trong miệng khô khan lòng nóng đốt,
Trực nhìn thấy rõ khí thuần dương.
Giờ Dậu xem tường Kim Định Nam,
Bồ Đề nảy mụt lá xanh xanh.
Thị phi nên gọi người trần thế,
Nhắm mắt ngơ tai hiểu mới rành.
Giờ Tuất xem qua Kim Định Nam,
Lòng tợ Hư Không khóm bạch vân.
Gió thổi trăng soi rày thấu tánh,
Bốn câu vô thượng khó bày phân.
Giờ Hợi xem qua Kim Định Nam,
Cây cao nước chảy với mây bay.
Khá ngồi lặng lẽ nghe hơi lửa,
Tiếng quạ canh khuya nghe điếc tai.
Nay Ta chỉ rõ cho ngươi hiểu trong kinh Kim Cang có câu : “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Nghĩa là phàm cả sự gì có hình tướng đều là huyễn dối. Bởi vậy ba ngàn sáu trăm tả đạo đều vị vào nơi sắc tướng nên gọi là tả đạo (là ở bên tả, không chánh), duy có tìm đặng Ông Chủ Nhơn mới gọi là thiệt, vì không hình bóng, không tiếng tăm.
Tỷ như xưa kia thả con thoàn trôi qua biển trầm luân, không khỏi bờ, không cây cỏ, mê mang nơi cảnh tục. Ngày nay thức giấc tỉnh ra phải lật đật sửa buồm ngay chèo Định Nam Kim mà trở mũi qua tây, đặng về cho mau tới bến Cực Lạc.
Lão Tổ nói xong ngâm rằng :
Huệ cảnh là gương soi mặt mày,
Nào Tiên nào Phật cũng lẽ này.
Đổi lòng thấy Tánh về quê cũ,
Soi sáng huyền quang muôn phép hay.
Chư Phật gặp kỳ Liên Hoa hội,
Chỉ rõ huyền cơ vui nên vui.
Phật xưa tu hành chẳng kệ kinh,
Không chay không lạt bởi lòng nhơn.
Thấu Tánh mà nên vóc Kim Thân,
Đồng nhập Niết Bàn.
Mượn nẻo vô vi mà đặng nên,
Ta nay biển khổ thả phép thoàn.
Độ người quân tử có nhơn duyên,
Mới đặng sang.
Phật trước là người vì giác ngộ,
Người nay tánh Phật bởi mê mang.
Khá thương ôi !
Thương ôi ! biển khổ bến mê này,
Ai muốn vào đây phải mắc lấy.
Gặp hội Tam Ngươn kiếp số đầy,
Ba ngàn sáu trăm đạo bàng môn.
Đâu đặng thấy kinh Vô Tự không ?
Thấy kinh Vô Tự trống không không,
Đổi mặt quày đầu ngó nơi lòng.
Đạo ở nơi trong, trong có đạo.
Có đạo mò kim như không gặp,
Gặp lẽ tự nhiên, lẽ tự nhiên.
Biết đặng lẽ này mà tỏ ngộ,
Bỏ phàm vào Thánh lên cung Tiên.
Nhập Niết Bàn thấy rõ ràng,
Kinh khuyên khắp tất cả thế gian.
Chớ luận bàn !
Tu hành thì được lẽ tự nhiên.
Lão Tổ ngâm xong, Thần Quang quỳ xuống bạch rằng : “Nay đệ tử được thấy chỗ diệu huyền,
từ đây đệ tử một lòng tinh tấn quyết định đến kỳ sở nguyện mới thôi”. Lão Tổ cười và nói : “Lành thay ! Lành thay ! Hỡi chúng sanh linh,
có biết lòng Phật ra dường nào chăng ?
Vậy Ta xin nói thêm kệ này cho ngươi rõ ý nhiệm :
Vào cảnh Niết Bàn chẳng dễ đâu,
Bàng môn tả đạo ấy tha cầu.
Âm dương luyện kỷ hòa năm khí,
Rồng cọp kết rong nhóm sáu châu.
Trời cũng như người đồng một lẽ,
Đạo thì có một chẳng hai đâu.
Huệ không kêu đến từ nhiên đến,
Chư Phật dời lên Cực Lạc chầu.