Làm Sao Gọi Là Tánh Phật Tánh ấy nó ở nơi huệ tạng một điểm tinh linh, trên chẳng dính với trời, dưới không liền cùng đất, hư hư, không không, vô ảnh, vô hình, song nó sáng rở dường hột báu minh châu, từ khi hồng mông vừa phân biệt thì đã có chơn tánh, nó không lìa ta, không lìa có nó ta mới đặng.
Lên thoàn bát nhã về cảnh phật
Chém đứt hồng trần ẩn cảnh tiên.
Tuy nhiều như vậy mà không ai biết: chúng sanh vì không tỉnh ngộ đâu đặng biết cái chơn tánh nầy, nay ta cậy chánh pháp của phật soi tỏ ba ngàn thế giới, ở nơi trời thì bao la kiền (càn), khôn, tại đất rỏ non biển, ở người thì vạch cơ thấu gân, đặng như thế mới chơn tánh.
Dứt đàng sống thác khỏi luân hồi
Chẳng vương phàm tình mà khổ não.
Đặng vậy mới gọi rằng chánh pháp, đại đạo xét thấu máy huyền cơ, trong chổ nhiệm mới là thật nhiệm
Cảnh phật linh sơn thấy rỏ ràng
Chơn không xét rỏ máy hành trang
Trên cảnh thông đàng không sống thác
Dưới chùa mở cửa chẳng trầm luân.
Nay ta giải thêm chử “đạo” cho ngươi rỏ. nên biết rằng, đạo là phân biệt cơ trời đất, chia sẽ âm dương, đến đấng thượng đế cũng chưa biết duyên do từ đâu, hằng thật chư phật, chư tiên nhờ đó nên dóc kim cang, chúng sanh nhờ đó mà lập nên tánh mạng, nơi trời chia âm dương, nơi đất phân nước lửa, ở hư không sanh gió mây, ở phương hướng cắt ra nam bắc, ở thì giờ là tý ngọ,
ở bát quái là khảm ly, ở người kêu là tánh.
Xét ra kỷ thì trời không phân âm dương chẳng phân thanh trược, đất không nước lửa, muôn vật không sanh hư không, chẳng có gió mây thì vật không sống, phương hướng chẳng đông tây nam bắc chẳng hiểu nơ trung ương, thời giờ không tý ngọ thì không biết ngày đêm, quẻ không khảm ly lấy đâu chia bát quái. Người không tánh thì chẳng đặng tri biết, ấy là lẽ đạo vậy.
Đạo rất bao la, nếu biết phối hiệp âm dương mới thấy ra ngoài ba cỏi chứng quả niết bàn. Thần quang bạch rằng: “Đường nào cao rộng tới trời, sâu dày sánh cùng đất”. Lão tổ nói: “sáng rộng ấy chỉ trong hai mươi bốn giờ ra công xuống tay mà kết cho nên rộng (hống) còn sâu dày sánh cùng đất là khổ tâm ngưng thần cho tịnh nó đông lại (diên) thì dùng phương đông chọn lấy khí thuần dương nửa phần mộc, phương tây lấy khí nguyên âm nửa phần kim gọi là nước tạng thận xông lên lửa tạng tâm giáng xuống ấy là khảm ly giao cấu.
Tánh ở nơi trời làm chủ mạng, ở trong đất làm khách người, mà biết rành nẻo thanh tịnh thì trời đất đều gom về : “ nhơn năng thương thường tịnh, thiên địa tất giai quy”.
Rỏ ràng tánh ở hư không
Ý rèn vô động luyện lòng vô vi.
Lão tổ lại tiếp rằng: “người có chí nhơn trao luyện, chơn thoàn sáng xét tánh mạng mà định nên quẻ khảm ly, thấu rỏ máy huyền quang thì ở đâu cũng sáng rở, cái sáng rở ấy là linh huệ gọi là ngộ được đạo vậy.
Bạch thầy làm sao biết đặng chơn đơn mà dò xét
Đã biết xuống tay thì thần khí tinh đã gom mà kết nên vẽ sáng gọi là đơn vậy,
song phải lấy huệ mà xét ông chơn sư để lại mới rành.
Nếu gặp minh sư chỉ điềm lành
Sợ chi diêm chúa đến thăm mình
Bốn phương vui thú tiêu diêu cảnh
Trăm việc khỏi lo xúc cảm tình
Lặng lẽ mơ màng ăn ngủ khí
Yên lìm thông thả hiệp tam tinh
Tu hành rỏ xét điều chơn lý
Trộn khí hư vô luyện tánh linh.
Nếu người đốn ngộ (xét biết bài kệ này) thì trong giờ tý ngọ tham thấu tánh thoàn ắc có lẽ gặp dịp chầu di đà lo chi thập điện đến viếng, nếu đặng được đường ấy rồi thì đơn thơ đến triệu ra xác phàm, vào nẻo thánh thật là huyền diệu biết bao.
Khoan nhặc trống trời gọi chủ nhơn
Đơn thơ đến rước khá dời chơn
Yêm điềm mờ lặng lên thiên cảnh
Mừng đặng từ nay khỏi khổ luân.
Thần quang quỳ xuống bạch rằng: “đường nào gọi là rồi tay xuống gối, biết rỏ huyền quang soi cảnh,
bốn vóc đều lìa khi về nơi hư không, mang hóa ra gió, một điểm linh quang chơn tánh,
siêu ra ba cỏi chẳng đến diêm đình. Lão tổ nói: “nếu muốn tránh diêm chúa, thì trước quên mình là có mình.
Chúng sanh vì có thân thể (xác) mới luân hồi, bằng bỏ thân thể phàm này mà quy hướng
về đạo làm sao mà luân hồi cho đặng.
lời xưa có nói:
chớ gọi thân này là thiệt báu
thân này còn có thiệt chơn thân
xác phàm đến chết thành chi đó
biết đăng chơn thân gọi ( NguyênThần)
bởi vậy người đã luyện thân cơ thì cắt đứt dây hồng, bỏ dẹp tình tự ưa muốn, trừ tuyệt ý vọng tưởng, quét sạch lòng xao động thì linh đài không nhớm bụi trần, trong lúc canh ba mượn khóa vô vi mở vượt vòng giáp sắt (thiết tỏa), lén trốn lánh cho xa rồi chuyển động pháp luân mới thông căn nguyên đàng luân hồi. muốn biết như thế thì trừ cho đặng chử vô minh trong mười hai duyên cớ người căn ngừa sát quỷ ( nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) trong cột chặc bạch mã thanh viên, trên thông cảnh rời giữa rỏ khí hư không, dưới thương khắp chúng sanh ấy là liểu chơn tánh phật mới được vô sanh Thần quang lại hỏi rằng: “ làm sao gọi là tánh phật?” Lão tổ nói cái pháp tánh của chư phật là hư vô chẳng sanh chẳng diệt, vô cùng phép nhiệm đầy đủ sanh khó tỏa ra lẽ tự nhiên, thật có một không hai vậy. nay ngươi khá gắn công mà thấu xét lý thoàn bỏ dứt sự vọng niệm mới thấy rỏ tánh phật hư không. đặng đường ấy rồi thì trong không mà gặp có vô vi.
Bởi thế ấy mới xem trời đất không biết trời đất vậy, bốn gốc đều không, cảnh tục cuộc trần đều xa, tánh ấy ra ngoài trời trực phá máy linh ngươn mới dứt được căn nguồn đàng sanh diệt.
Ngươi hãy nghe bài kệ của ta đây.
Trong miệng trâu trắng nữa nhật nguyệt
Hư không mầu nhiệm dạng hình trong
Sóng xao bể khổ nào ra đặng
Mấy nổi chơn kinh một chử không
Cảnh trần nhơ bơn chân không bước
Cỏi phật thơm tho xác vàng rồng
Dưới đất trên trời ta chẳng ở
Gọi là thanh tịnh hiệp chơn không
Chỉ rỏ bạch ngưu rành nguồn cội
Kim ngưu lại vẽ thấu lý tầm
Tầm ra mới biết trong thân thể
Thân thể định yên hiện sắc long
Xá lợi tuc kêu là chơn khí
Thiết ngưu ra mặt kẻ chơn tâm
Xét rành ba bực sáu căn nghiệt
Hỏi lại sáu chàng vẫn xưng anh
Mắt thiệt đại ca xem cảnh sắc
Tai vẫn nhị ca lóng nghe tiền
Mũi gốc tam ca ngữi mùi thơm
Tứ ca là miêng nói thị phi
Thần gọi ngủ ca ưa mến chịu
Lục ca là ý chạy như dong
Thần quang hỏi: lời cổ ngữ gọi cơ tại mục (phép mầu nhiệm ở đôi mắt) là vì sao? Lão tổ đáp: “mắt là ở nơi trời gom khí, ngủ hành kết năm tạng, nơi người mà nên vóc. Người vật sanh ra trước sanh đôi mắt, ngươn thần gom vào đó, cho nên khi ngủ thức khác nhau là bởi thần đi ở, đến sự tri biết và tri ký ức cũng ở vào hai mắt. Ông thần nê hoàn nói: “chơn âm chơn dương kết nên đạo chỉ ở sông nâu chớ viễn tầm”.
Nay ta đem chử mục mà chỉ ngươi rỏ: chử muc hai ngăn ở trong gọi là âm dương tương hội, một khuôn ở ngoài gọi là hỗn độn thành hình, từ khi hỗn độn thành hình thì chia khí âm dương, phân nên thanh thăng trược giáng, mới mở mang vạn vật. vã lại chử mục mà bớt một vạch ngang dưới (là bớt âm) thì nên ngôi mặt nhựt, chử Nhựt này ẩn lửa thái dương, tám lượng gọi là thuần dương (hống). bằng bỏ vạch ngang đích thì nên ngội mặt Nguyệt, chử Nguyệt này ẩn nước thái âm, nữa cân gọi là khí thuần âm (diên).
Nhựt nguyệt là âm dương kết nơi trước mặt (mục). vậy ai là người tâm đạo có nên chú ý đến chăng?
Thánh trước hiền xưa đều gọi cơ tại mục há không phải ư?
Thủy hỏa tự giao vô thượng hạ, nhứt đòan sanh ý tại sông nâu.
Từ hàng rằng:
Muôn việc sắc không không sắc
Sắc không không sắc ở đôi mắt
Âm dương ngưng kết nên Minh Châu
Ra đặng ngươn thần nên quả phật
Đây ta đã chỉ giáo lý.
Người hãy ghi bài kệ này để vào lòng
Chói ngời nên báu lộ Minh Châu
Hòa hiệp âm dương chất nhiệm mầu
Tả thận (1) sanh diên diên tám lượng
Hữu tâm sinh hống hống ba chu (2)
Sánh cùng nguyệt ảnh nào thua đó
So với nhật huê chẳng kém đâu
Nước lửa vầy đoàn nên phép báu
Linh sơn tỏ rạng tại sông nâu
Thần quang nghe rỏ quỳ lạy và hỏi rằng: ( đường nào mới gọi ra thai mà nhìn rỏ mẹ cha )
Lão tổ rằng:
Nói rành đạo cả há là kỳ
Ngươi khá nghe thông rỏ chổ ni
Chơn hống nữa cân hòa ngọc đảnh
Kỳ diên tám lượng kết mâu ni
Ra thai trổ báu mừng nên đạo
Nối gót sanh lân phỉ gặp thì
Bú móm dưỡng nuôi công khó nhọc
Mặt mày cha mẹ sẽ tường tri.
sách vạn pháp cơ yếu gọi thận có hai trái, tả gọi cật thiên nhất sanh thủy,
trong ở ta thận sanh tròng đen, địa nhị sanh hỏa là lửa ở tạng tâm sanh tròng trắng
đời thượng cổ đong lường bằng cái chu
bởi vậy ông tổ đông ba có nói, nẻo sanh tử của con người là ở nơi khảm ly. Giao cấu thì sống lìa nhau thì thác. Ly là tâm, là hỏa sanh hống.
khảm là thận là thủy sanh diên. Tạm kêu là rồng cọp.
cổ nhơn có nói: “ Long tùng hỏa ký xuất,
Hổ hướng thủy trùng lai là ( rồng nói ra nơi lửa, cọp theo nước mà đến)
bởi vậy phải thanh tâm tuyệt vị (sạch lòng dứt tưởng) mà thoàn cho ngộ giác. Lâu ngày nước ở chổ đan điền động lại, mượn lửa mâu ni cho hơi bay bốc lên nê hườn theo quẻ gọi là ( khảm ly ký tế ).
từ đây dày công luỵên cho kỷ càng lâu ngày kết nên thai tức
thật vậy chẳng phải ở nơi trời đất, chẳng phân phàm thân, cũng không có ở trong kinh sách. Dầu mò hoài kiếm mãi tới chết rồi hết chuyện.
chớ có làm sao mà biết phối hợp âm dương sanh thai điều tánh.
Ta chỉ rành cho ngươi, nhưng thế nào cũng không cạn hiểu, ngươi phải tầm chơn sư “chỉ minh diệu khuyết, chớ thật ra nó ở trước mắt ngươi,
chỉ vì nó không dạng không hình làm sao ngươi thấy cho đặng.
nếu biết đặng nó chỉ có một, là một cái lý tự nhiên mà thôi.
Trời có, đất có, thì khí hư không chổ nào cũng có. Trong hư không ở đâu không phải lý tánh,
Thiên thơ có câu “Nhơn thân tiểu Thiên Địa” phải lắm.
Nói rồi lão tổ ngâm rằng:
Khó lường trời đất sự hư không
Người nhỏ sánh cùng trời đất rộng
Gẫm lại trời người đều một tánh
Chỉ vì chân giả có hai lòng
Trên trời ba báu thủy hỏa phong
Ba báu người tinh thần khí
Ba báu nước đạo thích nho tông.
Thần quang bạch rằng: “ đem loài người sánh với trời có lẽ nào chăng? Lão tổ nói: ta đã nói hồi trước kia sao người còn nghi. Người ta ai ai cũng có ngươn thần, ngươn thần ấy là chất của tạo hóa, thân thể của tánh cũng đồng một chất thái hư mà nên trời có ngủ hành: vàng, cây, nước, lửa, đất. người có ngủ tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận. trời có muôn vật đầy đủ, người có sự ảo. cảnh trời có hồ, hải, giang , hà, người khí huyết châu luân chẳng ngừng, há sánh với rời không đặng sao
Thật là:
Chỉ rỏ huyền cơ nên lẽ nhiệm
Nói thông chân lý biết điều mầu.
Thần quang lại bạch “đường nào gọi là quy y tam bảo?” Tổ sư nói: ngoài nói rỏ là phật pháp tăng song trong chia thành tinh khí thần. quy y phật thượng tôn ngươn thần. quy y pháp thượng giữ ngươn tinh. Quy y tăng trọn gìn nguyên khí.
Lại có tam ngưu: thần là bạch ngưu, khí là kim ngưu, tinh là thiết ngưu. Người có ba xe: tâm là dương xa, ý là lộc xa, tánh là bạch ngưu xa. Người có tam giới (3 cỏi). mắt là sắc giới, tâm là dục giới, ý là vọng tưởng giới. lại phân ba người bạn (tam hữu) lương bằng tri hữu, hữu bằng hà hữu, cuồng bằng quái hữu.
Tam hữu giải nghĩa
Tham thoàn học đạo giải thoát đàng sanh tử bỏ vọng quấy, dứt não tà, từ bi, hỹ xã chứng đặng vô sanh, độ khắp kẻ lành, có duyên đạo hạnh đầy đủ là lương bằng tri hữu
Dối trá gạt người, tham lam, chẳng làm. Độc ác vô cùng, chẳng tin trời phật, không kể đạo lý là cuồng bằng quái hữu.
Lương bằng quái hữu chứng vô sanh
Thiên cảnh văn bằng đặng rước lên
Thử hỏi tranh danh cùng đoạt lợi
Cuồng bằng quái hữu xuống diêm đình
Lảo tổ nói: nay ta cho ngươi bài kệ này khá tỉnh ngộ đổi tánh sửa lòng quy hướng về cực lạc.
Phật ấy là người bởi thiên đương
Người mà tánh quỷ tại căn phần
Dưỡng thần thanh tịnh ba nhà hiệp
Bồi tánh vô vi một lý nhơn
Nuôi huyết ra hình hình ra ảnh
Chứa tinh sanh khí khí hóa Thần
Chánh tà hai nẻo nên phân biệt
Mau đến linh đài thất tánh chơn
Thần quang bạch: nơi nào gọi tam cang, tam huyền, tam quang, tam minh xin tổ sư chỉ rành. Lão tổ nói : tam cung trên đảnh gọi nê hườn,
cung giữa rún là hùynh đình cung, sau lưng dưới tim là giáng tắc cung.
Tam huyền là thể trung huyền hàm dưỡng khắp kiền (càn) khôn.
Cứu trung huyền làm mây mưa nước lửa (hiệp đơn).
Huyền trung huyền đọan dứt cuộc luân hồi.
Tam quang đầu gọi thiên quang, chơn là địa quang, tay là nhơn quang.
Tam tâm mắt xem sắc giới gọi quá khứ tâm,
miệng niệm đọng là hiện tại tâm. Ý muốn tưởng là tương lai tâm.
Khá dứt bỏ cho đặng mới thấu nẻo niết bàn.
Tam minh: tâm minh kiến phật, tánh minh liểu chơn phật,
trí minh chọn lời dạy bảo. Thần quang bạch: “ đường nào kêu là ngủ nhãn lục thông?” Lão tổ nói: “cửa trên đảnh (óc ) gọi là thiên nhãn, hai mắt kêu là nhục nhãn, đôi tai kêu là huệ nhãn, hai mũi gọi là pháp nhãn, tâm là phật nhãn. Mắt ở đảnh gọi là thiên nhãn thông. Hai mắt phàm giác ngộ trí linh kêu là thiên nhĩ thông. soi thấu muôn kiếp kêu là tha tâm thông. Có dường như không tiêu diêu tự tại là mạng túc thông.khám phá đàng sanh ra khỏi nẻo luân hồi kêu là lậu tận thông ấy là bật phật nên tổ chớ phải bật thường mà đặng. Bực người tu luyện phải tròn đủ bốn trí và ba sự không.
Vậy nay ta chỉ cho người rỏ. đại viên cảnh trí bình đẳng, tánh trí, diệu quang, sát trí, thân sở tác trí là trí rộng ở cảnh hư vô công bình, ngay thẳng suy xét tột lẽ nhiệm mầu, độ vớt kẻ trầm luân khỏi biển trần tánh thiệt, chơn không mạng gọi là uẩn không, thần kêu là hư không.
Ý dấu ba không bốn ý đây
Đoạt quan cướp ải chẳng đơn sai
Ngộ rồi tính phật nên tinh tấn
Chỉ rỏ đường đi bước đến đài.
Xét rỏ từ khi hỗn ngươn sanh nhất khí, bày ra cuộc đời bởi cái ý tưởng của cha mẹ. phụ tinh mẫu huyết mà kết nên cái xác ảo mộng. ví bằng hỏi có kẻ nào đốn ngộ thì mơ màng như tỉnh giấc chiêm bao đó vậy. nay có tánh kết mạng thì ắc có vô thường đến giếng lặn hụp trong biển luân hồi Thương thay, thảm thay,
bằng ai xét tột lý hư không thì sẽ ra làm sao? Có lẽ liểu đặng chơn đạo dứt đàng nhơn quả vậy.
Ta và dẩu cho ai có lòng kim cang chi bồ tát, giọng văn thù, sắc quan âm, hạnh phổ hiền, đồng tử, kim công, hùynh bà, anh nhi, trạch nữ. có cha già con non mà cũng có cha non con già . cha con cùng nhau giúp đở cũng có . ngọn kim đăng chẳng sáng, tiếng trống cao đài chẳng kêu cầu, triều châu nổi, nước tào khê cạn, có ngủ hành ngủ đạt, tứ khổ, vậy ngươi có biết lẽ này chưa? Thần quang quỳ xuống bạch rằng : “ đệ tử chưa ráo rốt lẽ nhiệm mầu này”. Lão tổ nói: như ngươi chưa rỏ lý này hãy nghe ta nói đây: vả chăng tánh với mạng là căn nguyên của lý tưởng mà kết nên gọi là kim cang. Cái diệu lý ở chổ bửu pháp là bồ tát đôi tai lắng nghe sự phải quấy là văn thù, đôi mắt xem điều tà chánh thiệt quan âm,
chẳng biết mùi vị nết na nhu mềm , hai mũi gọi nết phổ hiền, đồng tử là nơi hô hấp.
kim công là tánh, hùynh bà là mạng, anh nhi trạch nữ thiệt là tinh huyết âm dương.
Cha non con già là sắc thân, cha già con non là pháp thân.
Cha con giúp đở nhau là âm dương xoay vần.
Ngọn kim đăng chẳng sáng là nhãn quang xuất ra, trống cao đài không kêu là hai tai lùng bùng chẳng nghe, cầu triều châu xây vần ba mạch (tam điền), nước tào khê cạn thiệt trong lưỡi ráo nước tân dịch (đây là lúc phối hợp chơn đơn vậy) Lão quân chỉ ngủ hành là : Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ . Khổng tử dạy ngủ đức: nhơn lễ nghĩa trí tín, Phật như lai truyền lại: sanh lão bệnh tử khê,
nếu ai không đặng lý này thì trong chử không có một là lẽ đương nhiên vậy.
Bơi có ấy người tu phải trao dồi luyện chơn thoàn, Tánh Mạng tham thấu cái lẽ hư không nên dám nói là bất sanh bất diệt, nay ta đem mà chỉ cho ngươi, song phải dày công hành lành khắp bốn loài, lo độ vớt quần sanh theo cái tôn chỉ từ bi, ra lòng nhơn ái.
Nơi biển trầm luân thả pháp thuyền
Độ người quân tử có nhân duyên
Có duyên chở đến long hoa hội
Tám nạn ba tai khỏi đảo điên.